Một loạt công điện gởi từ ngoại giao đoàn Hoa Kỳ tại Việt Nam trong các năm từ 2002 đến 2004 cho thấy cuộc chiến chống nạn vi phạm bản quyền và sản phẩm trí tuệ tại Việt Nam là cuộc chiến cực kỳ gay go, trong đó, các công ty phải dùng đủ mọi phương cách để đạt hiệu quả. Cuộc chiến không chỉ chống lại các tiệm bán lẻ lan tràn tại Sài Gòn, cuộc chiến còn đối phó với cả hiện tượng cơ quan chính phủ Việt Nam và các cơ quan đa quốc gia làm việc tại Việt Nam không chịu dùng sản phẩm software hợp pháp. Microsoft chơi trò “good cop – bad cop”  Công điện đầu tháng 11, 2002, từ Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn kể lại những khó khăn mà Microsoft gặp phải khi cố gắng tẩy sạch nạn vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại thành phố này. Các cơ quan chịu trách nhiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại thành phố Hồ Chí Minh bố ráp các tiệm bán computer địa phương ngày 17 tháng 10, tịch thâu được gần 7 ngàn đĩa phần mềm lậu. Ðây có thể được xem là lần bố ráp đầu tiên tại Việt Nam. Mặc dầu Microsoft cho đây là một “chiến thắng,” giới quan sát cho rằng sự thiếu thốn nhân lực, thiếu huấn luyện cần thiết… và cả “nan đề nội tại” của Microsoft, khiến vấn đề vẫn còn nằm ỳ ra đó.

(Nhan đề của Microsoft là không biết có nên “làm tới bến” hay không, hay cần phải duy trì mối quan hệ tốt với các nhà phân phối lẻ tại địa phương). Microsoft có văn phòng đại diện tại Hà Nội trong năm 1996, và gần đây thì có văn phòng chi nhánh tại Sài Gòn. Microsoft có thể được xem là công ty software đầu tiên muốn thi hành thỏa thuận bản quyền do Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết năm 1997. Người đại diện của công ty tại Việt Nam, ông Ngô Phúc Cường, nói với giới ngoại giao Hoa Kỳ nhân dịp khai trương văn phòng Sài Gòn, rằng Microsoft có kế hoạch bố ráp các tiệm bán computer và giảm đến tối thiểu nạn ăn cắp sản phẩm trí tuệ tại Việt Nam. Tỷ lệ ăn cắp sản phẩm trí tuệ tại Việt Nam vào thời điểm đó là 94%, giảm đôi chút so với một năm trước, 97%. Kế hoạch bố ráp software lậu được mang ra bàn ở cấp cao, và cho thấy lý do tại sao việc chống nạn vi phạm bản quyền tại Việt Nam lại khó đến như thế.

Kế hoạch của công ty như thế này: Microsoft sẽ dùng văn phòng đại diện luật pháp của họ tại Singapore trong vai trò “bad cop,” tức là làm mạnh với phía Việt Nam. Ðồng thời, giữ ông Ngô Phúc Cường ở vai trò “hiền lành” – “good cop” – để ông này có thể dễ dàng làm việc với các công ty bán lẻ tại địa phương. Ðại diện từ Singapore sẽ làm việc rất sát với các công ty luật tại Sài Gòn và người chịu trách nhiệm “quản lý thị trường,” thuộc chính quyền. Về sau, tin riêng của ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, thủ thuật sử dụng văn phòng luật tại Singapore thất bại. Lý do, văn phòng này có kinh nghiệm làm việc với các quốc gia như Thái Lan và Ấn Ðộ, và vì vậy họ “không hiểu được những khó khăn khi làm việc với một quốc gia cộng sản như Việt Nam, nơi khái niệm sở hữu trí tuệ là hoàn toàn mới và vẫn còn bị nghi ngờ.” Phía Microsoft sau đó tổ chức huấn luyện cho 40 người của Ban Quản Lý Thị Trường về cách thức phân biệt đĩa thật và đĩa giả. Tuy nhiên, người đứng đầu Ban Quản Lý Thị Trường lại miễn cưỡng tiến hành các bước xa hơn, vì không có lệnh trực tiếp từ Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh.

Phía Microsoft sau đó vận động và được ông Nguyễn Thiện Nhân, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố, ủng hộ cuộc bố ráp các tiệm bán software lậu. Thế nhưng, vào phút chót, người đứng đầu Ban Quản Lý Thị Trường cho lệnh tạm ngưng, mà không hề giải thích. “Có lẽ ông ta muốn chứng minh vị thế độc lập của mình.” Cuối cùng thì cuộc bố ráp cũng diễn ra. Ðại diện Ban Quản Lý Thị Trường, đại diện Microsoft và các luật sư địa phương bố ráp đồng loạt 7 tiệm bán lẻ, thu được khoảng 7 ngàn đĩa phần mềm lậu. Các tiệm này thuộc đủ kích cỡ, từ nhỏ đến lớn, có tiệm thậm chí còn bán software trên website, là www.pclehoan.com. Phía Ban Quản Lý Thị Trường có trách nhiệm giữ, và sau đó, sẽ hủy tất cả các đĩa lậu này. Chủ của một vài tiệm bị bố ráp phàn nàn: “Tại sao quý vị lại bố ráp chúng tôi, khi mà chính quyền cũng dùng đồ giả của chúng tôi?” Luật sư đại diện Microsoft gọi cuộc bố ráp này là “thành công.” Tuy nhiên, vẫn còn nhiều yếu kém trong tiến trình thi hành luật. Thứ nhất, Ban Quản Lý Thị Trường chỉ tập trung tịch thu những đĩa có phần mềm lậu của Microsoft, và hoàn toàn không đếm xỉa gì đến sản phẩm của các công ty khác. Thứ hai, mỗi người trong Ban Quản Lý Thị Trường có cách hành xử riêng. Chẳng hạn, có người không tịch thu những CD có nhãn “MS Word,” có người lại tịch thu tất cả mọi CD có sản phẩm của Microsoft, bất chấp nhãn hiệu gì.

Thứ ba, nhóm bố ráp chỉ tịch thu một số nhỏ CD, cho dầu các thống kê trước khi bố ráp cho thấy mỗi tiệm có từ 5 đến 10 ngàn đĩa lậu. Luật sư đại diện yêu cầu Microsoft đòi Ban Quản Lý Thị Trường tịch thu nhiều hơn nữa, nhưng công ty này từ chối, vì “sợ các chủ tiệm nổi giận.” Cuối cùng, cuộc bố ráp chỉ tịch thu được một số lượng nhỏ từ các tiệm nhỏ, với số bán chỉ có ảnh hưởng tối thiểu trên thị trường. Thống kê cho thấy, mỗi tiệm lớn chỉ bị tịch thu khoảng 500 đĩa, còn các tiệm bán software lậu trên Internet thì bị tịch thu chưa tới 100 đĩa (một phần lý do là vì các chủ tiệm này phản đối Microsoft tịch thu các sản phẩm không phải của Microsoft). Ngoài ra, khi bố ráp một đầu nậu nổi tiếng tại đây, nhóm thi hành chỉ tịch thu được… 40 đĩa lậu. Người đại diện Microsoft nói rằng, công ty muốn tiếp tục thực hiện các cuộc bố ráp trong tương lai, mà lần tới thì chĩa thẳng vào những tiệm cài đặt sẵn phần mềm vào computer cũng như những tay cài đặt nhiều lần cho dầu họ chỉ mua có 1 lần sử dụng. Trường hợp của Microsoft cho thấy sự phức tạp trong nỗ lực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại thị trường hàng giả, hàng nhái tràn ngập của Việt Nam. Ghi nhận của ngoại giao Hoa Kỳ: Khoảng một nửa số đĩa tịch thu sẽ được trả lại cho các tiệm bán hàng, lý do là vì đây là các đĩa trắng hoặc chỉ có sản phẩm của các hãng không phải Microsoft. Công điện viết: “Nếu không nỗ lực huấn luyện để hiểu rõ về luật bản quyền và luật cầu chứng, mọi nỗ lực chỉ có giá trị nửa chừng.” Ðại diện Microsoft phàn nàn là các hãng phần mềm khác không tích cực đẩy mạnh việc áp dụng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Các hãng khác, ngược lại, cố ý để Microsoft đi đầu, và qua đó sẽ phải gánh chịu sự khó chịu của các nhà phân phối lẻ. Công điện kết luận: “Trong khi sự mâu thuẫn giữa áp dụng triệt để luật sở hữu trí tuệ và duy trì mối quan hệ tốt với thị trường phản ánh rõ ràng rằng, Việt Nam thiếu các nhà phân phối hợp pháp và chuyên nghiệp, Microsoft và các hãng software sẽ phải giải quyết vấn đề cạnh tranh trước khi họ có thể đạt được mục tiêu bán hàng ở đây. Và ngay lúc này, vấn đề sở hữu trí tuệ sẽ tiếp tục làm thương tổn tham vọng của Việt Nam trở thành một trung tâm của ngành công nghệ thông tin.”

vi phạm bản quyền Việt Nam
“Piracy Country” là tên gọi ví von của nước Mỹ dành cho Việt Nam trong việc vi phạm bản quyền.

Nhà sản xuất nội địa cũng chết vì nạn vi phạm bản quyền

Công điện ngày 21 tháng 5, 2002, gởi từ Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ, cho biết doanh nhân Việt Nam cũng than trời, rằng “nạn vi phạm bản quyền và sở hữu trí tuệ khiến doanh nghiệp của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.” Ðặc biệt, nạn ăn cắp sản phẩm, nhất là các đĩa CD được sản xuất tại Trung Quốc, lan tràn khắp Sài Gòn. “Cơ quan hữu trách tỏ ra thiếu hiệu quả và không phối hợp được với nhau.” Ngoại giao Hoa Kỳ, khi gặp giới hữu trách Việt Nam, nhấn mạnh, rằng chống nạn vi phạm bản quyền là một trong những điều khoản quan trọng trong Hiệp Ước Thương Mại Song Phương Việt-Mỹ, sẽ ảnh hưởng mạnh lên sự phát triển kinh tế. Phía Việt Nam tỏ ra đồng ý, nói rằng họ đã “làm ở mức tốt nhất để ngăn chặn nạn vi phạm bản quyền, nhưng vẫn còn gặp khó khăn vì đây là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến rất nhiều cơ quan khác nhau.” Ngoài ra, khó khăn của họ còn ở chỗ, họ thiếu nhân lực, thiếu tiền, thiếu phương tiện, và bị hạn chế thẩm quyền khi thi hành công vụ. Ðó là chưa kể, tiền phạt cho nạn vi phạm bản quyền còn thấp, và đây chính là một trong những yếu tố khiến việc chống nạn vi phạm bản quyền trở nên khó khăn.

Một giới chức Việt Nam nói với phía Hoa Kỳ, hệ thống chống nạn ăn cắp tài sản trí tuệ của Việt Nam có tính lý thuyết hơn thực hành. Nhưng cũng khẳng định, Sài Gòn có hệ thống chống nạn này tốt nhất Việt Nam. Giới chức này nói, cơ quan do bà ta điều hành thường áp dụng cách thức là đứng làm trung gian cho phía sở hữu với phía ăn cắp điều đình với nhau. Về phía Việt Nam, các công ty âm nhạc địa phương cũng phàn nàn họ bị ảnh hưởng nặng của nạn ăn cắp bản quyền. Cụ thể, ông Lê Hồng Thanh, giám đốc công ty Saigon Audio, nói rằng nạn ăn cắp khiến công ty không thể có lời khi phát hành các sản phẩm âm nhạc mới. Theo thống kê, cứ 30 CD âm nhạc bán trên thị trường Sài Gòn, có đến 20 đĩa lậu. Ðiều này đưa đến hậu quả, mỗi năm số CD âm nhạc của các ca, nhạc sĩ Sài Gòn được phát hành chỉ còn 40, thay vì 100 như trước đây. Saigon Audio và các công ty khác đã nộp đơn kiến nghị lên chính phủ, yêu cầu chính sách bảo vệ bản quyền chặt chẽ hơn nữa. Ðiều đáng nói là, các sản phẩm âm nhạc nội địa bị người Việt Nam làm giả, trong khi phim ảnh, âm nhạc nước ngoài, đặc biệt là Mỹ, thì có nguồn gốc từ… Trung Quốc

Một công ty khác, chuyên phân phối loa “Bose” cũng bị tình trạng hàng giả làm cho khốn đốn. Ông Nguyễn Vĩnh Lộc, giám đốc công ty, than phiền hàng giả có nguồn gốc Trung Quốc và Ðài Loan tràn ngập Sài Gòn. Loa Bose cũng thấy khắp các hang cùng ngõ hẻm. Ông Lộc cho biết, cách đây ít lâu, công ty Bose nỗ lực làm việc với giới hữu trách để ngăn chặn tình trạng này. Nhưng kết quả là mọi nỗ lực đều bỏ sông bỏ biển. Ông Lộc gợi ý, các cơ quan hữu trách phải được sự ủng hộ chính trị của các cấp cao hơn, để có thể làm việc hữu hiệu hơn. Ông cho rằng, Ủy Ban Nhân Dân các địa phương phải có lệnh từ trên xuống một cách rõ ràng, chứ đơn thuần các cơ quan chuyên môn đi chống nạn ăn cắp thì chắc chắn không có kết quả.  Câu chuyện “Hard Rock Café”  Công điện gởi đi hồi trung tuần tháng 6, 2002, từ Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ, viết rằng, trong khi băng, đĩa lậu lan tràn tại thành phố Hồ Chí Minh, thì một trường hợp khác cho thấy sự thành công của việc chống nạn vi phạm bản quyền. Ðó là trường hợp quán cà phê có tên “The Hard Rock Café.”

Công ty Mỹ, vốn làm chủ tên gọi này, làm việc liên tục hơn 1 năm với các công ty luật tại Sài Gòn, đã đạt được kết quả là “The Hard Rock Café” tại Việt Nam phải gỡ bỏ bảng hiệu. Các luật sư tại Sài Gòn tin rằng kết quả phần nào đến từ áp lực cũng như sự thăm viếng liên tục của giới chức Hoa Kỳ. Ðầu đuôi câu chuyện thế này: Một tuần đầu tháng 6, 2002, cơ quan thanh tra của Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường Việt Nam đến quán cà phê “The Hard Rock Café.” Cơ quan hữu trách nhất định tháo gỡ bảng hiệu của quán này. Các ống đèn neon của bảng hiệu bị phá hủy trước sự hiện diện của phía luật sư bên nguyên. Bên cạnh đó, cơ quan hữu trách cũng yêu cầu chủ quán gỡ bỏ tất cả những gì mang nhãn hiệu “Hard Rock Café” ở trong quán. Kết quả trước mắt là vậy. Theo công điện, mọi chuyện còn lâu mới được giải quyết rốt ráo. Luật sư bên nguyên sau đó gởi các “thám tử tư” đến hiện trường. Các thám tử này tường trình, bản hiệu thì đúng là biến mất, nhưng mọi thứ khác thì còn nguyên. Từ logo, đến áo thun, đồ móc chìa khóa,… vốn đã biến mất một cách bí mật trước cuộc bố ráp, nay xuất hiện trở lại. Quán vẫn hoạt động như bình thường, nội thất của quán vẫn không thay đổi, và thực đơn “Hard Rock Café” thì vẫn còn nguyên.

 Bắt thật lớn các vụ vi phạm bản quyền, rồi sao?

Công điện hồi tháng 10, 2003 kể lại một cuộc bố ráp khác, bắt được 145 ngàn đĩa lậu tại một tiệm ở Sài Gòn. Cú bắt được xem là “lớn nhất lịch sử,” nhưng để lại nhiều câu hỏi lớn không kém cho tương lai của thị trường sở hữu trí tuệ tại đây. Vào cuối tháng 9, 2003, cuộc bố ráp tịch thu hơn 100 ngàn đĩa CDs, DVDs, VCDs và videotape lậu tại Sài Gòn. Mặc dầu số lượng hàng lậu tịch thu rất lớn, giới ngoại giao quan sát và nhận định, rằng cách mà giới hữu trách nhắm vào tiệm, và chỉ một tiệm, bị bố ráp, cũng như những gì sẽ diễn ra tiếp theo, vẫn còn là “một bí mật.” Công điện, trích lời báo chí Việt Nam, nói rằng vụ bố ráp bắt hơn 100 ngàn đĩa lậu tại một tiệm ở Sài Gòn vào ngày 27 tháng 9, 2003 là “lớn nhất trong lịch sử thành phố,” và rằng “tiệm này hoạt động dưới sự che chở của một công an địa phương, và là anh trai của chủ tiệm.” Ðại diện phía Việt Nam nói với Hoa Kỳ rằng đa số đĩa lậu bắt được gồm toàn nhạc Việt Nam. Và vụ này sẽ được chuyển giao cho công an điều tra, sau đó là truy tố. Phía Hoa Kỳ hỏi đại diện Việt Nam tại sao lại chọn tiệm này để bố ráp, trong khi Sài Gòn chỗ nào cũng có tiệm bán đồ lậu, thì đại diện Việt Nam né, không trả lời, chỉ giải thích là “cơ quan điều tra” đã theo dõi hơn một tuần rồi. Ðiều quan trọng là tại sao tiệm này bị để ý thì không ai có thể trả lời. Ðại diện Việt Nam cũng nói là ông ta không biết có công an địa phương bảo kê cho tiệm này. Ðại diện của Việt Nam cũng không tiết lộ các vụ bố ráp trong tương lai, nhưng nói đây không phải là vụ đơn lẻ. Nhân vật này cũng nói cuộc bố ráp không phải một vụ trình diễn, và trong quá khứ đã từng có nhiều vụ lớn hơn. Phía Hoa Kỳ cũng đặt câu hỏi với Việt Nam, là “liên cơ quan” chống hàng giả gồm nhiều ban, ngành khác nhau, thế nhưng trong vụ bố ráp này, chỉ có toàn nhân viên Bộ Văn Hóa Thông Tin. Ðại diện Việt Nam nói họ “không có nhiều thời gian” chuẩn bị, do đó nếu mang hết các ban, ngành vào thì không thực tế. Ðại diện Việt Nam sau đó nói với ngoại giao Hoa Kỳ là tất cả các đĩa lậu này sẽ được mang đi thiêu hủy. Tham tán kinh tế Hoa Kỳ xin được đi xem, thì được trả lời: TV sẽ chiếu lại, và cứ xem trên TV cũng được.

phần mềm bản quyền
Với tâm lý xài “chùa” quen rồi của đại đa số người Việt, rất khó để có thể thay đổi thói quen chuyển sang sử dụng phần mềm có bản quyền.

Ðã có gậy, phải có cà rốt về bản quyền

Trong khi nỗ lực chống hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ diễn ra tại các tiệm trên đường phố Sài Gòn, đại diện Microsoft nói với tổng lãnh sự Hoa Kỳ rằng họ sẽ nỗ lực yêu cầu chính phủ Việt Nam và các công ty đa quốc gia sử dụng software có “licensed.” Microsoft cũng lo, là nhiều công ty trước đây dùng hệ điều hành Linux, và vì hệ thống này khó sử dụng, họ sẽ quay lại với sản phẩm của Microsoft, và khi đó thì họ lại dùng đồ… lậu. Công điện hồi tháng 4, 2004, gởi từ Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh, viết: “Trong cuộc gặp giữa đại diện Microsoft tại Châu Á-Thái Bình Dương và Việt Nam cùng tham tán kinh tế Hoa Kỳ tại Sài Gòn, phía Microsoft nói họ có hai ưu tiên: 1. Yêu cầu cơ quan chính phủ Việt Nam dùng phần mềm Microsoft có licensed (tức là được mua), và 2. Yêu cầu các công ty nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng phải xài hàng hợp pháp.” Công điện trích lời đại diện Microsoft, rằng hiện có rất ít máy computer của chính phủ Việt Nam dùng software Microsoft được mua đúng luật, và hầu hết các công ty nước ngoài, vốn tôn trọng luật ở nơi khác, khi đến Việt Nam được vài tháng thì họ bắt đầu xài hàng lậu. Khó khăn lớn của Microsoft là họ không có sự linh động để điều chỉnh giá bán hệ điều hành Windows. Họ nói thêm, theo một thỏa thuận ký giữa Microsoft với Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, công ty phải hạ giá rất thấp khi bán sản phẩm vào thị trường Việt Nam cũng như một số thị trường khác. Thỏa thuận ấy cũng cho phép công ty điều chỉnh lại sản phẩm cho phù hợp thị trường Việt Nam, và nếu sản phẩm này rất khác với các phiên bản đang có, Microsoft được quyền bán ở bất cứ giá nào mà họ cho là phù hợp. Thế nhưng, vẫn theo đại diện công ty, thị trường Việt Nam còn nhỏ, chưa đủ để họ phát triển một sản phẩm riêng như vậy. Ðại diện công ty cũng bác bỏ lý luận rằng hệ thống Linux là một đe dọa cho sản phẩm của Microsoft tại Việt Nam (vì Linux rẻ, thậm chí miễn phí). Công ty nói rằng Linux rất khó sử dụng, đòi hỏi phải có sự huấn luyện phức tạp, đó là chưa nói cả thế giới gần như đều sử dụng sản phẩm của Microsoft, sự “tương thích” giữa các sản phẩm là rất quan trọng.

Microsoft nói rằng họ có kinh nghiệm với vấn đề Linux tại Thái Lan. Thống kê cho thấy, hơn 70% khách hàng Thái Lan sử dụng hệ điều hành Linux đã quay trở lại với Windows, chỉ sau vài tháng. Và lần này là sử dụng “Windows lậu.” “Việt Nam chắc chắn không phải ngoại lệ.” Công ty Microsoft vẫn đang nỗ lực tìm ra phương cách tối ưu để làm việc với cơ quan hữu trách địa phương. Nhiều người cho rằng công ty này yêu cầu rất mạnh với chính phủ Việt Nam để đẩy mạnh bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Và ngạc nhiên hơn, trong một buổi họp với cơ quan hữu trách chính quyền, một công an kinh tế Việt Nam yêu cầu Microsoft nhận diện các tiệm bán đồ gian, để phía công an đi bố ráp. Microsoft từ chối nêu đích danh các tiệm này. Họ nói công ty không muốn tạo tiền lệ, là đi làm công việc của chính phủ, trong khi việc điều tra, theo dõi chẳng tốn bao nhiêu thời gian. Ngoài ra, họ cũng không muốn tạo ấn tượng là Microsoft làm việc quá gần với công an, có thể khiến khách hàng có thành kiến. “Họ không muốn người Việt Nam, cứ mỗi khi thấy có công an bố ráp, thì lại nghĩ ngay đến Microsoft.” Sau khi dùng biện pháp “cây gậy,” Microsoft bắt đầu dùng đến “củ cà rốt.” Họ áp dụng chương trình “Tiệm Bán Ðồ Sạch.” Theo chương trình này, các nhà bán lẻ cam kết chỉ cài đặt software hợp pháp (licensed). Ðổi lại, chủ tiệm được thưởng “điểm” cho mỗi một software được bán ra, tương tự các chương trình thưởng điểm cho hành khách đi máy bay. Chương trình tỏ ra không hiệu quả mấy: 30% tiệm tự nguyện theo chương trình “bán đồ sạch” đều vừa bán đồ sạch, vừa bán đồ dơ – software không có giấy phép. Microsoft nỗ lực nhiều hơn là chỉ áp dụng bố ráp hoặc “cây gậy và củ cà rốt.” Tháng 3, 2004, họ ký biên bản ghi nhớ với Sài Gòn, theo đó, Microsoft sẽ “đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội của thành phố Hồ Chí Minh bằng cách triển khai các hệ thống công nghệ thông tin địa phương thông qua huấn luyện kỹ năng cần thiết cho các công ty, sinh viên, giáo viên và chuyên viên của chính phủ. Chương trình này được áp dụng cho các dự án chung, và cũng để giúp tạo công ăn việc làm tại thành phố Hồ Chí Minh.” Microsoft cũng sẽ giúp phát triển dự án “chính phủ điện tử” tại thành phố này, và cùng làm việc để chính quyền sở tại đồng ý các điều khoản dùng phần mềm có giấy phép. Cuối cùng, Microsoft giúp thiết lập giáo trình dạy công nghệ thông tin và tổ chức hội thảo “phù hợp với diễn giả.” Ðổi lại, Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh đồng ý hợp tác với Microsoft để bảo đảm các cơ quan ban ngành của thành phố này đi đầu trong việc sử dụng phần mềm hợp pháp.” Biên bản ghi nhớ rõ ràng là hay, nhưng nó “không có răng:” Không có điều khoản nào bắt buộc ai phải làm cái gì, mục đích ra sao, không có luật pháp đi kèm. Mọi chuyện có thể “đâu sẽ lại vào đấy.” Biên bản này, dài 5 trang giấy, là một viễn kiến hay, cho tương lai, nhưng thiếu kế hoạch hành động.

Công điện:  “HCMC Faces Regional IPR Woes,” 21/5/2002, từ Emi Lynn Yamauchi, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh. Loại bảo mật: Không bảo mật. http://wikileaks. org/cable/2002/05/02HOCHIMINHCITY538.html n “Inspectorate Shatters Hard Rock Cafe – But The Phoenix Rises Again,” 17/6/2002, từ Emi Lynn Yamauchi, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh. Loại bảo mật: Không bảo mật. http://wikileaks.org/cable/2002/06/02HOCHIMINHCITY602.html n “Vietnam’s IPR Enforcement: Microsoft Strikes Back,” 6/11/2007, từ Emi Lynn Yamauchi, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Loại bảo mật: Không bảo mật. http://wikileaks.org/cable/2002/11/02HOCHIMINHCITY1123.html n “145,000 Pirated Discs/Tapes Confiscated In Ho Chi Minh City – What’s Next?,” 24/10/2003, từ Emi Lynn Yamauchi, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh. Loại bảo mật: Không bảo mật. http://wikileaks.org/cable/2003/10/03HOCHIMINHCI TY1035.html n “In Vietnam, The Government Is Microsoft’s First Target,” 5/4/2004, từ Emi Lynn Yamauchi, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh. Loại bảo mật: Không bảo mật. http://wikileaks.org/cable/2004/04/04HOCHIMINHCITY367.html

Chia sẻ

Bình Luận