Vấn đề số 33: Những mâu thuẫn trong việc hội nhập Tây Âu và việc mở rộng Cộng đồng kinh tế châu Âu lần thứ nhất

Nội dung vấn đề:

  • Những mâu thuẫn nào nảy sinh trong quá trình tăng cường hội nhập Tây Âu trong những năm 1960? Nội dung “thỏa hiệp Lúcxămbua” là gì? Việc mở rộng Cộng đồng kinh tế Châu Âu là gì?
  • Những sự kiện nào diễn ra trong giai đoạn hai của việc hội nhập Tây Âu? Việc mỏ rộng Liên minh châu Âu lần thứ nhất diễn ra như thế nào?

Những mâu thuẫn nào nảy sinh trong quá trình tăng cường hội nhập Tây Âu trong những năm 1960? Nội dung “thỏa hiệp Lúcxămbua” là gì?

Giữa những năm 1960, các nước Tây Âu đã tập trung hơn nữa vào việc quyết định các vấn đề hội nhập. Đối với Pháp, một đế quốc đành phải chấp nhận mất các thuộc địa, thì những vấn đề của châu Âu đã xác định nội dung cơ bản trong đường lối đối ngoại. Tháng Mười 1964, sau bầu cử thắng lợi, những người thuộc Công Đảng lên nắm chính quyền ở Anh, lập » chính phủ đứng đầu là G. Wilson. Chính phủ mới tuyên bố đường lối “từ bỏ các khu vực phía Đông Suez”. Điều này ngầm hiểu là sẽ trao trả độc lập cho hàng loạt các nước thuộc địa của Anh ở châu Á. Theo đó, đối với Luân Đôn, chính sách ở châu Âu trở nên quan trọng hơn những quan hệ với các  lãnh thổ hải ngoại. Vấn đề tham gia Cộng đồng kinh tế của Anh vẫn bị bỏ ngỏ sau sự việc Pháp liên tục lên tiêng phản đối việc kết nạp Anh vào năm 1963.

Việc thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu do Pháp lãnh đạo đã không tạo sự gắn kết trong khối Đại Tây Dương như Mỹ mong đợi. Trong quan hệ chính trị, dưới sự dẫn dắt của Pari, nhóm G6 có thể đã tỏ ra là quá độc lập trong quan hệ với Mỹ. Về mặt kinh tế, việc các nước trong Cộng đồng kinh tế áp dụng thuế suất ngoại thương chung đã làm suy yếu khả năng canh tranh của hàng hóa Mỹ tại các nước “thị trường chung”, dẫn tới xung đột trong quan hệ Mỹ – Tây Âu.

Hơn nữa, ngày 2 tháng Ba 1965, nhóm G6 đã thỏa thuận về việc hợp nhất ba khối cộng đồng châu Âu là Cộng đồng than – thép châu Au, Cọng đông kinh tê châu Au và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Au. Đồng thời thông qua quyết định hợp nhất cả các co quan công tác của các cộng đồng này thành một cơ chế thống nhất trên cơ sở Cộng đồng kinh tế châu Âu. Quá trình hợp nhất này dự kiến được thực hiện trong thời gian hai năm.

Cộng hòa Liên bang Đức, do là một đối tác thân Mỹ nên bắt đầu tìm cách hạn chế ảnh hưởng của Ch. de Gaulle trong việc hội nhập. Nội các của Thủ tướng L. Erhard chủ trương theo tinh thần cho rằng, mức độ hợp tác kinh tế đã đạt được trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế châu Âu cần phải được bổ sung bằng sự hợp tác chính trị tương hỗ dựa trên cơ sở siêu quốc gia, xét về nguyên tăc, như đã được dự trù bởi Hiệp ước Roma 1957. Lập trường theo “chủ nghĩa liên bang” của Cộng hòa liên bang Đức đã nhận sự ủng hộ của các nước khác trong Cộng đồng kinh tế châu Âu nhưng lại gây ra bất đồng với Pari.

Nước Pháp có nguy cơ rơi vào thế bị cô lập về ngoại giao trong nhóm G6. Mùa hè 1965, trong cuộc thảo luận vấn đề nhức nhối đối với Paris về việc tiêu chuẩn hóa chính sách nông nghiệp của mình thông qua các nước trong Cộng đồng kinh tế châu Âu, không một nước nào trong nhóm G6 ủng hộ quan điểm của Paris. Âm hưởng của cuộc tranh luận cục bộ này càng thêm nặng nề trong bối cảnh, khi mà từ ngày 1 tháng 1 1966, theo Hiệp ước Roma, mọi quyết định trong Cộng đồng kinh tế phải được thông qua bằng đa số phiếu chứ không phải bằng sự đồng thuận. Việc trao đổi ý kiến trong quá trình thảo luận vấn đề sản phẩm nông nghiệp, xét về ý nghĩa, tương tự như một cuộc tập duyệt về thủ tục thông qua quyết định trong tương lai.

của nhóm G6. Đoàn đại biểu Pháp đã bị sốc. Kết quả là các đối tác của Pháp trong Cộng đồng kinh tế châu Âu đã trì hoãn việc xem xét vấn đề tranh cãi thêm nửa năm. Các đối tác này không phải khó khăn “tính toán” để ép Pháp phải theo quyết định của họ Trong tình thê rối bời đó, Chính phủ Pháp đã quyết định tẩy chay các phiên họp của các cơ quan công tác của Cộng đồng kinh tế kể từ ngày 1 tháng Bảy 1965. Nội bộ G6 bắt đầu xuất hiện khủng hoảng lòng tin.

Pari sợ việc hội nhập siêu quốc gia do lo ngại bị mất nền độc lập. Charles de Gaulle đã chống đối thuyết hội nhập này bằng việc thống nhất các quốc gia trong không gian châu Âu “từ Đại Tây Dương đến Ural” với sự tham gia của Liên Xô và các nước Đông Âu. Công thức liên kết châu Âu “từ Đại Tây Dương đến Ural” sau này vẫn còn được trình bày nhiều lân trong các diễn văn của tổng thống.

Xung đột với Pháp không nằm trong các kế hoạch của nhóm G6. Tháng Mười hai 1965, cuộc tranh luận đã ngã ngũ khi tính đến quyền lợi của Pháp. Nhưng Pháp vẫn tiếp tục tẩy chay công việc của Cộng đồng kinh tế. Sau nhiều lần cố gắng thuyết phục phía Pháp, tháng Một 1966, trong một cuộc gặp ở Lúcxămbua, các bộ trưởng ngoại giao của G6 đã tìm được một thỏa hiệp nhượng bộ. Một điều được quy định là mọi nghị quyết trong Cộng đông kinh tế sẽ được thông qua như đã được Hiệp ước Roma dự liệu bằng đa số phiếu. Tuy nhiên, khi thảo luận những vấn đề quan trọng nhất, các nghị quyết sẽ được thông qua bằng phương thức đồng thuận, nghĩa là trên cơ sở thống nhất ý kiến. Việc thỏa thuận này được gọi là “thỏa hiệp Lúcxămbua .

cộng đồng kinh tế và ủy ban Châu Âu
Đối với chính quyền của tướng Charles de Gaulle , EC là một sự suy giảm mức độ cạnh tranh, chủ quyền và làm tăng nguy cơ xung đột với Liên Xô.

Những sự kiện nào diễn ra trong giai đoạn hai của việc hội Âu ? Việc mở rộng liên minh châu Âu tãn thứ nhất diễn ra như thế nào?

Từ năm 1967, khi kết thúc quá trình hợp nhất các cơ quan công tác của ba cộng đồng (Cộng đồng than – thép châu Âu, Cộng đồng kinh tế Châu Âu và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu) thành một thê thống nhất, được bắt đầu năm 1965, một Cộng đồng châu Âu thống nhất (EC)1 đã xuất hiện. Ngày 1 tháng Bày 1968, các nước EC chính thức tuyên bố thành lập một khu vực thương mại chung đối với các sản phẩm công nghiệp của sáu nước và áp dụng biểu thuế hải quan chung trong việc buôn bán các hàng hóa công nghiệp với các nước thứ ba. Năm 1969 là năm kết thúc giai đoạn đầu của việc hội nhập Tây Âu, theo đúng dự trù của Hiệp ước Roma năm 1957. Mục tiêu chính ban đầu của nó – trong vòng 12 năm hình thành một thị trường chung – đã đạt được về nhiêu mặt. Liên minh ngoại thương của sáu nước đã được thành lập.

Những nhiệm vụ của giai đoạn hai đã được trình bày như việc xây dựng, bổ sung liên minh kinh tế và tiền tệ của các nước Tây Âu vào liên minh ngoại thương. Trên cơ sở này về sau dự kiến sẽ chuyển sang việc hình thành liên minh chính trị.

Vấn đề mở rộng Cộng đồng kinh tế châu Âu đã nhúc nhích khởi động. Sự ra đi của Ch. de Gaulle và việc Tổng thống J. Pompidou nắm chính quyền ở Pháp đã cởi trói cho việc giải quyết vấn đề kết nạp Anh vào Cộng đồng. Tháng 5 năm 1971, đạt được thỏa thuận nguyên tắc chung Pháp-Anh về việc Anh gia nhập Cộng đồng kinh tế châu Âu. Ngày 19 tháng 4 năm 1972, trong một cuộc trưng cầu dân ý, Pháp đã bày tỏ sự ủng hộ về việc mở rộng Cộng đồng, và Pari đã chính thức rút lại ý kiến phản đối tư cách thành viên của Anh trong Cộng Đồng. Hiệp định tương ứng giữa Anh và các nước G6 đã được ký kết vào tháng 1 năm 1972 tại La Hay, và từ ngày 1 tháng Một 1973, Anh chính thức trở thành thành viên Cộng đồng. Cùng gia nhập Cộng đồng châu Âu với Anh còn có Ailen và Đan Mạch. Na Uy đã ký thỏa thuận gia nhập EC( cùng các nước nói trên, nhưng đã không tham gia Cộng đồng do không nhận được ủng hộ trong cuộc trưng cầu ý dân trong nước.

Việc kết nạp các thành viên mới cùng với tình hình kinh tết giảm sút ở châu Âu trong những năm 1970 đã kìm hãm sự thúc đẩy hợp tác hội nhập. Ngoài ra, việc Anh gia nhập Cộng đồng đã củng cố thêm lập trường của phái theo chủ thuyết hội nhập “liên minh”, ít cấp tiến hơn – nghĩa là xích lại gần nhau trên cơ sở hợp tác truyền thống giữa các quốc gia chứ không phải bằng con đường củng cố các cơ quan siêu quốc gia chuyên trách hoạch định chính sách.

Những cơ quan quản lý chủ yếu của Cộng đồng châu Âu gồm có Hội đồng Bộ trưởng và ủy ban các cộng đồng châu Âu. Hội đồng Bộ trưởng gồm các bộ trưởng ngoại giao và kinh tế các nước thành viên. Hội đồng thực hiện phối hợp các chính sách của các quốc gia riêng biệt và có quyền thông qua các nghị quyết – hoặc bằng phương thức đồng thuận, hoặc bằng đa số phiếu.

Ủy ban gồm các đại biểu do các nước cử đến theo nguyên tắc thẩm quyền của mỗi đại biểu (nhưng mỗi nước không được quá hai người), nhiệm kỳ bốn năm. Ủy ban theo dõi việc thực thi các điều khoản trong các hiệp định đã ký và có quyền đưa ra những kết luận và khuyến nghị thanh tra đối với những vấr đề cụ thế. Kể từ khi tham gia ủy ban, các thành viên của  ban phải độc lập với chính phủ “của mình” về mặt pháp lý. Họ chỉ chịu trách nhiệm trước Nghị viện châu Âu và Nghị viện có quyền bày tỏ sự bất tín nhiệm họ. Bản thân Nghị viện châu Âu cũng không được bầu ra một cách trực tiếp (cho đến năm 1979) mà được hình thành bởi các đại biểu do mỗi nước trong cộng đồng tiến cử.

Những đề xuất và khuyến nghị của ủy ban phải được Hội đồng Bộ trưởng duyệt .Ủy ban được giao nhiệm vụ đại diện cho Cộng đồng châu Âu trong các quan hệ quốc tế.

Bên cạnh đó, các khuynh hướng siêu quốc gia, “theo chủ nghĩa liên bang” trong việc hội nhập Tây Âu vẫn tiếp tục phát triển cùng với khuynh hướng “liên minh”, một phần là do các nước nhỏ trong EC – số lượng những nước này nhiều hơn những nước lớn – hy vọng sẽ tạo được ảnh hưởng của mình rõ nét hơn trong việc thông qua những nghị quyết trong trường hợp theo “kịch bản chủ nghĩa liên bang”.

Trong những năm 1970, mức tương tác trong các vấn đề hội nhập và việc chính trị hóa dần dần bản thân quá trình hội nhập đã được đẩy mạnh. Năm 1972, trong cuộc gặp của các nước thành viên EC tại Pari, Tổng thống J. Pompidou lần đầu tiên nhắc đến, với tư cách là mục tiêu triển vọng của Cộng đồng châu Âu, việc tự thân cải biến của Cộng đồng châu Âu đến cuối những năm 1970 thành Liên minh châu Ầu mà có khả năng xuất hiện như một chỉnh thế thống nhất trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài.

Năm 1973, trong một hội nghị tại Copenhagen, đoàn đại biểu Pháp cũng đã đưa ra đề nghị xây dựng cơ cấu châu Âu mới – Hội đồng châu Âu, sẽ là nơi gặp gỡ thường xuyên của lãnh đạo cấp cao của các nước trong cộng đồng. Hội đồng không được dựa vào cơ cấu các cơ quan công tác của Cộng đồng châu Âu mà chỉ là một tổ chức độc lập. Nhưng trên thực tế, do mức độ đại diện cao, Liên minh châu Âu có vai trò của một cơ quan chính trị quan trọng nhất. Năm 1974, cơ quan này đưa ra các quy tắc tiến hành bầu cử vào Nghị viện châu Âu theo liên danh đảng phái, theo đó một nghị viện đã được bầu ra vào năm 1979. Hội đồng châu Âu bắt đầu giải quyết các vấn đề như định ra các thông số hệ thống tiền tệ châu Âu, xây dựng Quỹ phát triển châu Âu và Quỹ văn hóa châu Âu. Hội đồng châu Âu đã thực sự trở thành cơ quan  chính của hội nhập Tây Âu, về hình thức, tồn tại ngoài hệ thống các cơ quan lãnh đạo của Cộng đồng châu Âu, nói đúng hơn là đứng trên hệ thống này. Hội đồng châu Âu trở nên quan trọng hơn Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban EC.

Bài viết có thể bạn quan tâm:

Vấn đề 25a: Khái niệm “chung sống hòa bình” của Liên Xô

 

 

 

 

Chia sẻ

Bình Luận