Vì sao chính quyền của Tổng Thống Charles de Gaulle rút khỏi tổ chức quân sự NATO?

Chính quyền L. Johnson không từ bỏ kế hoạch sử dụng sức mạnh hạt nhân đa phương dưới sự giám sát của NATO ngay cả sau lần đầu tiên kế hoạch này bị Charles de Gaulle bác bỏ vào năm 1963. Tại kỳ họp của Hội đồng NATO tại Ottawa, tháng 5 năm 1963, Anh đã đưa ra đề xuất chỉnh sửa kế hoạch này, theo đó các lực lượng hạt nhân đa phương sẽ được xây dựng không phải để thay thế mà là song cùng với tiềm năng hạt nhân quốc gia. Dự thảo này đã không nhận được sự ủng hộ.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, phái đoàn Mỹ trình lên Hội đồng NATO xem xét giả thuyết kế hoạch thứ ba, dự kiến xây dựng chung những hải đội tàu chiến trang bị vũ khí hạt nhân với điều kiện góp chung kinh phí và nằm dưới sự chỉ huy của một cơ quan chung của NATO, số ghế trong cơ quan này sẽ được phân bố theo tỷ lệ đóng góp của mỗi nước trong chương trình tài chính. Cộng hòa liên bang Đức là nước chấp thuận tham gia dự án này bởi cho rằng sẽ có quyền thông qua những quyết định về việc sử dụng vũ khí nguyên tử.

Kế hoạch của Mỹ đã khiến phái đoàn Pháp có những phản ứng mạnh mẽ bởi họ cảm thấy gần như bị xúc phạm: những đề nghị của Washington đã đi ngược lại so với những nhận thức của Paris về công thức quan hệ giữa các quốc gia hạt nhân phương Tây trong lĩnh vực an ninh. Theo quan điểm của Pháp, sơ đồ này phải dưới dạng chỉ huy tay ba Mỹ, Pháp và Anh (ý tưởng này do chính Charles de Gaulle đưa ra từ năm 1958). Ba nước Mỹ, Anh, Pháp phải cùng nhau thông qua những quyết định then chốt, trong đó mỗi nước đều có quyền phủ quyết việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Phái đoàn Pháp lại một lần nữa lên tiếng chống lại kế hoạch này. Các nước Canada, Đan Mạch, Na Uy, Ireland và Thổ Nhĩ Kỳ cũng không tán thành kế hoạch này. Thậm chí Anh cũng không dám công khai bày tỏ sự ủng hộ với phía Mỹ. Chỉ có Cộng hòa liên bang Đức bỏ phiếu cho đề xuất của Mỹ.

Mâu thuẫn giữa Pháp và NATO tăng lên rõ rệt. Theo quan điểm của Pari, kế hoạch này thể hiện chính sách tham vọng khuất phục Tây Âu của Mỹ và lôi kéo Tây Âu vào chiến lược của Washington với tư cách là một đối tác biết lắng nghe, mà định mệnh của nó là phải làm bàn đạp của Mỹ ở cựu thế giới để đối đầu với Liên Xô.  Charles de Gaulle không muốn đối đầu với Mỹ nhưng không cho rằng việc chịu khuất phục Washington là biện pháp tốt nhất để bảo đảm quyền lợi của Pháp. Tổng thống Pháp biện giải rằng, an ninh của đất nước sẽ được bảo vệ vững chắc bằng những nỗ lực của chính nước Pháp chống lại mối đe dọa giả định đến từ Liên Xô; nếu Pháp có- dù là không lớn tiềm năng kiềm chế hạt nhân của riêng mình đủ để hủy diệt những thành phố trọng yếu ở phần châu Á của Liên Xô. Khác với Washington, Paris muốn tách bạn nền an ninh của Pháp ra khỏi an ninh phương Tây nói chung và cả an ninh của Mỹ. Charles de Gaulle đã bác bỏ ý kiến của các chính trị gia Mỹ khi họ tập trung đặc biệt vào khả năng nổ ra chiến tranh với “khối xã hội chủ nghĩa”. Khái niệm “phòng thủ đa phương” (multi-lateral deterrence) phù hợp với quan điểm của Charles de Gaulle. Trong khuôn khổ của khái niệm này, xung đột với Liên Xô và đồng minh của Liên Xô chỉ là một trong số kịch bản phát triển tiêu cực. Pháp thừa nhận mình là một bộ phận của Tây Âu, nhưng không muốn tham gia vào cuộc chiến chống Liên Xô, nếu như nó không xuất phát từ quyền lợi của nước Pháp.  Việc Paris muốn tách biệt trong chiến lược chính trị-quân sự của phương Tây đã đẩy mạnh mức độ mở rộng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam trong những năm 1965-1966. Pháp chỉ trích gay gắt Washington về việc mở đầu chiến dịch Việt Nam. Charles de Gaulle nghi ngờ Mỹ tham vọng thôn tính “di sản thuộc địa” của Pháp và nẫng tay trên bàn đạp địa chính trị ở Đông Dương vốn thuộc Pháp. Paris đã tính đến việc bị lôi cuốn thực sự vào cuộc chiến tranh của Liên Xô và Trung Quốc là những nước đứng về phía những người Việt Nam chống Mỹ. Việc phân bố lực lượng này, trên nhiều phương diện, làm nhớ đến cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, và Charles de Gaulle không loại trừ khả năng mở rộng quy mô xung đột vì sự leo thang không kiểm soát được mức độ đối đầu giữa Mỹ với hai quốc gia cộng sản. Giới lãnh đạo Pháp không muốn nhận về phần mình thử rủi ro trở thành con tin trong cuộc đối đầu Xô-Mỹ. Paris đi đến kết luận là nhất thiết phải đưa ra quyết định cứng rắn.  Ngày 21 tháng Hai 1966, Pháp chính thức tuyên bố rút khỏi tổ chức quân sự NATO. Lý giải cho quyết định của mình, Charles de Gaulle tuyên bố rằng, do những điều kiện trên thế giới đã thay đổi nên chính sách đang được thực thi trong khuôn khổ NATO đi ngược lại quyền lợi của nước Pháp và có thể dẫn tới việc tự động lôi cuốn Pháp vào cuộc xung đột. Charles de Gaulle đã buộc Mỹ phải rút tất cả các bộ chỉ huy quân sự của NATO khỏi lãnh thổ Pháp, rút quân đồng minh và xóa sổ tất cả các căn cứ quân sự nước ngoài. Toàn bộ các lực lượng vũ trang của Pháp đã nằm dưới quyền chỉ huy quốc gia kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1966, và từ ngày 6 tháng 11 năm 1966, các đại diện của Pháp đã rời khỏi Ủy ban thường trực NATO.

charles de gaulle
Đối với chính quyền của Tổng Thống Charles de Gaulle, ông luôn muốn nước Pháp có một vị trí tốt nhất, không phải là con cờ của Washington tại bàn cờ chính trị Châu Âu.

Điều gì dẫn tới việc Xô và chính quyền Charles de Gaulle xích lại gần nhau và hình thức xích lại là như thế nào?

Sau sự việc tạo ra bước ngoặt đột ngột nhằm cách xa Mỹ và NATO, giới lãnh đạo Pháp hiểu rằng, họ phải giải trình ý nghĩa chiến lược của động thái đó đối với quan hệ Xô Pháp. Charles de Gaulle thấy cần thiết phải làm sao cho Liên Xô nhận thấy và đánh giá lập trường mới của Pháp trong lòng phương Tây với tư cách một đất nước không muốn gần mình bằng “trách nhiệm liên đới” với Washington và NATO trong các vấn đề quân sự chiến lược. Việc Pháp đứng độc lập với NATO mang ý nghĩa thực tế chỉ trong một trường hợp: nếu Moscow chấm dứt việc nhìn nhận Pháp với tư cách là một đối thủ giả định cùng một duộc với Mỹ và các nước NATO khác. Chính vì vậy, ngay sau khi quyết định rút khỏi NATO, Charles de Gaulle bắt đầu chuyến thăm chính thức Moscow.  Chuyến viếng thăm diễn ra từ ngày 20 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1966. Kết quả đạt được là việc ký kết tuyên bố Xô-Pháp, và đây là một trong những văn kiện khởi nguồn của quan hệ song phương. Văn kiện đã đạt được việc ghi nhận những nhân tố chung đối với Liên Xô và Pháp trong quan điểm về triển vọng phát triển tình hình thế giới. Liên Xô bày tỏ ủng hộ chính sách mới của Charles de Gaulle và tế nhị tránh không đưa ra những cứ liệu cụ thể về xung đột giữa Pháp và NATO.  Hai bên nhất trí về việc cần phải tạo bầu không khí hòa dịu giữa phương Đông và phương Tây, nhờ đó mới có thể mở ra con đường hợp tác trên toàn châu Âu. Điều này đòi hỏi Moscow và Paris phải có tâm thế ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề an ninh châu Âu. Việc đưa vào bản tuyên bố điều mục về các cuộc tham vấn liên chính phủ thường kỳ Xô Pháp mang một ý nghĩa đặc biệt. Năm 1970, dưới chính thể của tân Tổng thống Pháp Georges Pompidou, điều mục này đã được phát triển thành một văn bản riêng-Nghị định thư về tham vấn chính trị, trong đó quy định cách thức và tính định kỳ các cuộc thảo luận Xô-Pháp về các vấn đề nóng của tình hình phát triển quốc tế.

Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

Bài viết có thể bạn quan tâm

  1. Tại sao chúng ta lại cần chế độ dân chủ (phần 1)
  2. Max Weber: sự thờ ơ chính trị là cái chết của nền dân chủ
  3. Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
Chia sẻ

Bình Luận