Sự hình thành tình trạng ổn định trong thể đối đầu trong những năm 1960. Những cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí thời kỳ 1963-1968

Nội dung vấn đề:

Những hậu quả quốc tế sau cuộc khủng hoảng Caribê là gì?

Những luận điểm cơ bản của học thuyết “bảo đảm cả hai bên cũng chết“ là gì?

Những luận điểm cơ bản của Hiệp ước hạn chế thứ vũ khí nguyên tử được ký kết vào tháng Tám 1963 là gì? Phản ứng quốc tế đối với việc ký kết Hiệp ước này ra sao?

Những luận điểm cơ bản của Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu Và sử dụng không gian vũ trụ là gì?

Những luận điểm cơ bản của Hiệp ước không phổ biến Vũ khí hạt nhân (tháng Bảy 1968) là gì?

Những hậu quả quốc tế sau cuộc khủng hoảng Caribe đã ảnh hưởng thế nào đến các hiệp định kiểm soát vũ khí của hai siêu cường?

Đến mùa thu 1962, sự căng thẳng trong hệ thống thế giới thời hậu chiến đã tên đến đỉnh điểm. Thế giới đứng bên bờ vực một cuộc chiến tranh hạt nhân tổng thể. Cấu trúc lưỡng cực của thế giới trong thế cân bằng giữa Mỹ và Liên Xô bên bờ vực chiến tranh tỏ ra là một loại hình nguy hiểm đối với tổ chức: trật tự quốc tế. Chỉ có nỗi sợ hãi trước việc sử dụng vũ khí nguyên tử siêu mạnh mới có thể níu giữ được thế giới thoát khỏi “Chiến tranh thế giới thứ ba”. Bắt buộc phải có những nỗ lực tức thời nhằm thiết lập những nguyên tắc khắt khe trong cách hành xử đối với thế giới hạt nhân vũ trụ.

Cuộc khủng hoảng Caribê là đỉnh điểm bất ổn về quân sự-chiến lược trong quan hệ quốc tế nửa sau thế kỷ XX. Đồng thời, cũng đánh dấu giới hạn kết thúc đường lối cân bằng trên miệng hố chiến tranh, là đường lối đã tạo ra bầu không khi quan hệ quốc tế trong suốt giai đoạn các cuộc khủng hoảng của hệ thống thế giới giữa những năm 1948-1962. “Chiến tranh lạnh” theo nghĩa hẹp của khái niệm này đã kết thúc. nhưng thế đối đầu vẫn tồn tại.

Cuộc khủng hoảng Caribê là bức tranh minh họa đáng ghê sợ của thế đối đầu này. Liên Xô và Mỹ không tin tưởng lẫn nhau và đều lo ngại một cuộc tấn công nguyên tử. Tuy nhiên, sự thận trọng của hai siêu cường đã được đẩy cao rõ rệt. Từ mỗi bên, dù là kình địch, nhưng đều cố gắng không tiến sát đến bờ vực một cuộc đụng độ thực sự với đối phương. Sự thù địch bắt đầu được loại trừ ra khỏi phạm vi phô diễn sức mạnh trong khuôn khổ các cuộc thương lượng. Một kỷ nguyên “đối đầu về quy chế” bắt đầu, cho phép giải quyết các vấn đề về đường iối đối ngoại của các siêu cường mà không chịu sự rủi tu từ “bất kỳ” cuộc “chạm trán“ với nhau. Mối lo ngại về một cuộc chiến tranh tổng thể đã giảm đi. Sau năm 1962, mối in ngại này thực sự không còn tồn tại, ngoài một thời gian ngắn 1983-1984, mặc dù, nhìn chung, cuộc đối đầu Xô-Mỹ vẫn còn tiếp diễn, trong khi đó xung đột vẫn thường xuyên nổ ra tại các khu vực ngoại biên trên thế giới.

Bất chấp mọi dự báo, những mâu thuẫn giữa các siêu cường đã không chuyển thành Chiến tranh thế gỉới thứ ba, mà là cuộc ganh đua quyết liệt, nhưng là hòa bình về chính trị, kinh tế và công nghệ quân Sự. Giai đoạn dài thoát khỏi nỗi sợ hãi trước hiểm họa của một cuộc thế chiến mới sau năm 1962 được nhà sử học Mỹ John Louis Heddis gọi là thời kỳ “hòa bình dài”.

Trong hệ thống thế giới, thuật ngữ “hòa hình dài” được thể hiện dưới dạng xác định trong thế đối đầu. Mặc dù căng thẳng quốc tế xen kẽ những làn sóng lên xuống, nhưng nhìn chung sự ổn định trong thế đối đầu vẫn được duy trì từ sau kết thúc cuộc khủng hoảng Caribê 1962 cho đến thời điểm sụp đổ thế lưỡng cực vào năm 1991.

Sự ổn định trong thể đối đầu, phù hợp với thời kỳ những năm 1960, được thể hiện qua việc đẩy mạnh đối thoại giữa Liên Xô và Mỹ, xích lại gần nhau về lập trường trong những vấn đề kiểm soát vũ khí vũ trang và tình hình quốc tế ở châu Âu trên phông nền của trạng thái cận kề xung đột ở mức độ cao trong các tiểu hệ thống khu vực, trước hết là ở khu vực Đông Á (cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, xung đột Xô Trung) và Trung Cận Đông (cuộc chiến tranh Arập-Israel). Cường độ các cuộc xung đột ở các khu vực ngoại biên mà Liên Xô và Mỹ bị cuốn vào đó ít gây ảnh hưởng đến đối thoại toàn cầu Xô-Mỹ. Những vấn đề châu Âu và việc kiểm soát vũ khí vũ trang lại trở thành đề tài gây sự quan tâm chính đối với các chính trị gia Liên Xô và Mỹ.

Những sự kiện tháng Mười 1962 có ảnh hưởng quyết định đến các quốc gia. Thứ nhất là, thực hiện những bước phát triển về khả năng kỹ thuật đối với việc tiến hành đối thoại trực tiếp giữa Liên Xô và Mỹ trong những tình huống đặc biệt Ngày 20 tháng Sáu 1963, Moscow và Washington đã thiết lập “đường dây quan hệ nóng” với chế độ hoạt động suốt ngày đêm, cho phép lãnh đạo hai nước trao đổi với nhau. Thứ hai Mỹ và Liên Xô đã đẩy mạnh quá trình hiệp thương về các vấn đề kiểm soát vũ khí vũ trang. Các cuộc đàm phán được tiến hành qua ba cụm vấn đề: hạn chế thứ vũ khí hạt nhân, điều chỉnh các vấn đề sử dụng không gian vũ trụ cho mục đích quân sự, triển khai cấm chuyển giao tự do vật chất hạt nhân và công nghệ sử dụng chúng cho các quốc gia không sở hữu vũ khí hạt nhân. Thứ ba, Mỹ và Liên Xô tiếp tục hiện đại hóa các học thuyết quân sự-chính trị nhằm nâng mức giới hạn về xung đột hạt nhân Xô-Mỹ có thể xảy ra, giảm thiểu rủi ro xung đột không lường trước và những chuyển biến xung đột khu vực thông thường thành chiến tranh hạt nhân với sự tham gia của các siêu cường.

Ngày 10 tháng Sáu 1963, khi phát biểu tại trường Đại học Tổng hợp Hoa Kỳ, lần đầu tiên, Tổng thống Kennedy đã nói về sự cần thiết “phải giữ an ninh cho thế giới để có sự đa dạng” (safe for diversity) và ông cũng tích cực bày tỏ ý kiến có lợi cho việc làm dịu tình hình căng thẳng trên thế giới.

vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân trong chiến tranh lạnh.
Vũ khí hạt nhân là một trong những công cụ ngoại giao đặc biệt, thuộc quyền lực cứng của một quốc gia. Vũ khí hạt nhân còn là vũ khí răn đe ý đồ xâm lược hoặc chống phá của quốc gia này đối với quốc gia khác.

Những luận điểm cơ bản của học thuyết “bảo đảm cả hai bên cùng chết” là gì?

Đến mùa xuân 1963, các nhà lãnh đạo Mỹ mà đại diện là Kennedy và R. McNamara đã dứt khoát đi đến kết luận là không sử dụng khái niệm đánh đòn phủ đầu. Trong khuôn khổ “phản ứng linh hoạt“, các nhà lý luận Mỹ bắt đầu nghiên cứu học thuyết “bảo đảm cả hai bên cùng chết”.

Việc sử dụng vũ khí hạt nhân khi các quốc gia khác cũng đã sở hữu đã gây sự hoài nghi đối với một bộ phận những chuyên gia có đầu óc tỉnh táo của nước Mỹ. Sau sự kiện 1962, một điều rõ ràng là không tồn tại cái gọi là không có điểm yếu mang tính chiến lược trên lãnh thổ nước Mỹ. Đối với Liên Xô cũng như vậy, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân không thể bảo đảm cho bất cứ bên nào với trình độ phòng thủ chấp nhận được nhằm tránh được đòn tấn công của đối phương. Nếu một bên vượt trội hơn bên kia về số lượng đầu đạn thì bên kia dù sao của có một số lượng đầu đạn đủ lớn để có thể tiêu diệt hoàn toà bên này. Điều này trước đây cũng đã quá rõ. Chính vì vậy trước năm 1962, một số nhà chiến lược Mỹ đã cho rằng, điều kiên quyết định để giành chiến thắng trong chiến tranh hạt nhân là khả năng đánh đòn phủ đầu.

Nhưng đến giữa những năm 1960 tình hình đã thay đổi. Một điều rõ ràng là tiềm năng hạt nhân của Liên Xô và Mỹ đã lớn đến mức muốn hủy diệt nó bằng đòn phủ đầu là điều không thể.Bên bị giáng đòn phủ đầu dù gì cũng bảo toàn được một phần tiềm lực đủ để giảng đòn trả đũa và gây thiệt hại quá mức chịu đựng đối với bên ra đòn phủ đầu. Chắc chắn cả hai bên đều bị hủy diệt. Logic này đã làm mất đi ý nghĩa của đòn phủ đầu và đầy hai bên đến chỗ phải kiềm chế và từ bỏ chiến lược tấn công. Suy ra, bởi không bên nào trong các siêu cường có thể tính đến khả năng không thể bị tổn thương nên cả hai bên cần phải xây dựng hệ thống mới bảo đảm ổn định chiến lược, xuất phát từ việc thừa nhận cả hai bên đều có những điểm yếu và không thể khắc phục chúng được.

Đây là chiến lược dựa trên cơ sở “cân bằng sự khiếp sợ” (balance of fear). Thuật ngữ “kiềm chế” được sử dụng trong tiếng Nga từ giữa những năm 1940 để chuyển ngữ từ từ “containment” là cách diễn đạt của Kennan, có nghĩa là “giữ trong giới hạn”, “hạn chế bằng những ranh giới”. Từ giữa những năm 1960, thuật ngữ này bắt đầu được sử dụng để biểu thị cái mà trong tiếng Anh gọi là “deterrence” (theo nghĩa đen là”làm cho nhụt chí”), nghĩa là “tránh đòn nhờ sự khiếp sợ”. Các thuật ngữ “kiềm chế làm cho khiếp sợ” (deterrence) và “kiềm chế lẫn nhau” (mutual deterrence) là những khái niệm then chốt của lý thuyết ổn định chiến lược.

Những luận điểm cơ bản của Hiệp ước hạn thể thử vũ khí nguyên tử được ký kết vào tháng Tám 1963 là gì? Phản ứng quốc tế đối với việc ký kết Hiệp ước này ra sao?

Sau khủng hoảng Caribê, tư tưởng ganh đua mang tính động lực với Mỹ trong đường lối đối ngoại của Liên Xô bắt đầu lui xuống hàng kế hoạch thứ yếu, giới lãnh đạo Soviet hướng đầu tới logic về việc thừa nhận nguyên trạng toàn cầu.

Việc thừa nhận nguyên trạng là phù hợp với những cuộc đàm phán về việc cấm các vụ thử nghiệm có nghĩa là định vì mối tương quan các lập trường đàm phán mà các bên đã đạt được trong những năm đối thoại trước đó. Liên Xô thừa hiểu trong bất kỳ tình huống nào phương Tây cũng sẽ không chấp nhận từ bỏ việc hoàn thiện vũ khí hạt nhân và không cấm hoàn màn việc thử hạt nhân.

Ngay từ tháng Năm 1955, Liên Xô đã đưa ra sáng kiến chấm dứt mọi vụ thử hạt nhân nói chung. Các nước NATO coi ý tưởng này là quá cực đoan. Về nguyên tắc, họ không có ý định từ bỏ tiến hành thử nghiệm bởi không thử nghiệm thì không thể thực hiện được trong công việc hoàn thiện vũ khí hạt nhân. Nhưng các quốc gia phương Tây cũng đã đồng ý đề cập việc triển khai cấm các vụ thử từng phần bằng việc tách hẳn những hạn chế các vụ thử dưới lòng đất.

Tuy nhiên các vụ thử nguyên tử trong khí quyển, trên bề mặt mặt đất và dưới nước, dù đã được quy định, vẫn gây ô nhiễm phóng xạ bầu khí quyển, các tầng đất và các lớp nước đại dương. Dư luận thế giới rất quan ngại về sự lan tỏa phóng xạ và đã gây áp lực lên các chính phủ vì lợi ích của cách giải quyết vấn đề mà các bên đều chấp nhận được.

Tuy còn nhiều bất đồng nhưng đến tháng Mười 1958, những cuộc đàm phán tại Geneva về cấm các cuộc thử nghiệm cũng đã được khởi động. Những cuộc đàm phán này đã được chuyển lên Ủy ban 38 quốc gia về giải trừ quân bị, nơi mà việc đàm phán diễn ra không hề suôn sẻ. Mùa thu 1961, Đại hội đồng Liên hợp quốc lần thứ XVI đã thông qua nghị quyết đặc biệt kêu gọi chấm dứt thứ vũ khí nguyên tử từ ngày 1 tháng Một 1963. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã rơi vào bế tắc, rất khó thoát nếu không có một tác nhân kích thích bổ trợ. Khủng hoảng Caribê chính là tác nhân kích thích bổ trợ đó.

Đầu những năm 1960, trên thế giới đã có bốn cường quốc hạt nhân, Mỹ thử bom nguyên từ năm 1945, Liên Xô năm 1949, Anh năm 1952 và Pháp năm 1960. Trung Quốc cũng đã nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử, nhưng phải đến năm 1964 mới có thể tiến hành vụ thử hạt nhân. Nhằm hạn chế các vụ thử vũ khí nguyên tử có tính chất tổng thể, phức hợp, cần phải lôi kéo tất cả các cường quốc hạt nhân và cả Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán. Nhưng Pháp đã từ chối việc hạn chế trong các vấn đề thế tạo hạt nhân với lý do lạc hậu so với các nước khác. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa coi việc sở hữu bom nguyên tử là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, như giới lãnh đạo Trung Quốc đã khẳng định, trong điều kiện có nhiều khả năng nổ ra chiến tranh với kẻ thù ngoại xâm (vào đầu những năm 1960, kẻ thù ngoại xâm được ngầm hiểu là Mỹ). Rõ ràng là, hoặc hiệp định phải được ký kết ngay lập tức với hình thức và thành phần các thành viên đã đồng ý tham gia, hoặc là việc ký kết sẽ bị trì hoãn vô thời hạn.

Tháng Bảy 1963, Liên Xô rút lại tuyên bố phản đối những đề nghị về việc loại bỏ khỏi dự thảo hiệp ước mục cấm các vụ thử dưới lòng đất. Ngày 5 tháng Tám, tại Moscow, Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân trong bầu khí quyển, trong không gian vũ trụ và dưới nước đã được ký kết. Sau khi được ba thành viên hàng đầu là Liên Xô, Mỹ và Anh phê duyệt, ngày 10 tháng Mười hiệp ước này bắt đầu có hiệu lực. Đây là hiệp ước vô thời hạn và là hiệp ước mở; các quốc gia khác đều có thể tham gia Về sau số lượng các thành viên tham gia đã lên đến trên 100 quốc gia. Pháp và Trung Quốc không ký hiệp ước. Hiệp ước bắt buộc các nước thành viên cấm, ngăn chặn và không được tiến hành các vụ thử vũ khí hạt nhân, cũng như bất kỳ các vụ thử hạt nhân nào khác trong ba môi trường (khí quyển, không gian vũ trụ và dưới nước), cũng như trong bất kỳ môi trường nào khác, nếu vụ thứ đó gây ra việc phát tán bụi phóng xạ ra ngoài lãnh thổ của nước thử nghiệm.

Những luận điểm cơ bản của Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của các quôc: gia trong việc nghiên cứu và sử dụng không gian vũ trụ là gì?

Những thành tựu trong chinh phục vũ trụ đã tạo ra mối đe dọa về khả năng phân bố vũ khí hạt nhân hoặc các hệ thống tấn công khác trên các tàu vũ trụ có người lái, trên các vệ tinh nhân tạo của Trái Đất và trên các thiên thể. Năm 1966, lần đầu tiên trạm vũ trụ không người lái của Liên Xô “Luna-9” đã đổ bộ nhẹ nhàng xuống Mặt Trăng. Ngày 20 tháng Bảy 1969, phi hành gia người Mỹ Neil Amstrong là người đầu tiên đặt chân lên bề mặt của Mặt Trăng. Những thành tựu này có thể tạo cơ sở để đưa ra cách đặt vấn đề về “thuộc địa hóa”, khai chiếm một phần không gian vũ trụ và Mặt Trăng bởi một số quốc gia riêng biệt. Việc chuyển sang chạy đua vũ trang vào vũ trụ đe dọa trở thành hiện thực.

Theo đề xuất của Liên Xô và Mỹ, tháng Mười hai 1963, tại kỳ hợp thứ XVIII của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết kêu gọi các nước trên thế giới kiềm chế việc đưa lên quỹ đạo quanh trái đất các phương tiên mang vũ khí hạt nhân hoặc các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác hoặc thiết lập các loại vũ khí như vậy trên các hành tinh hoặc bố trí chủng trong không gian vũ trụ. Bước đi này đã thực sự mở đầu cho việc soạn thảo trong phạm vi Liên hợp quốc bản dự thảo Hiệp ước Về các nguyên tắc hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng không gian vũ trụ. Ngày 27 tháng Một 1967, các đại diện của Liên Xô, Mỹ và Anh đồng thời ký kết hiệp ước này ở Moscow, Washington và Luân Đôn. Đây là hiệp ước vô thời hạn và là hiệp ước mở.

Hiệp ước tuyên bố không gian vũ trụ là không gian mở dỡ. Với việc nghiên cứu và sử dụng của tất cả các quốc gia trên ta sở không phân biệt đối xử. Văn bản hiệp ước đặc biệt đề cập thêm về việc không gian vũ trụ, kể cả Mặt Trăng, không thể là đối tượng chiếm hữu quốc gia.

Ngoài ra, trong hiệp ước cũng cấm việc đưa vào quỹ đạo các thiết bị có gắn vũ khí hạt nhân và các loại phương tiện vũ khí giết người hàng loạt khác, cấm lắp đặt các loại vũ khí này trên các hành tinh, cấm bố trí chúng trong vũ trụ dưới bất kỳ hình thức nào. Văn bản cũng cấm xây dựng trên các hành tinh tắc căn cứ quân sự, các chiến tuyến và các công trình quân sự. Hiệp ước cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất mở của tất cả các trạm không gian và tàu vũ trụ trên các hành tinh thuộc các quốc gia riêng biệt đối với đại diện của các nước khác trong những điều kiện hợp tác lẫn nhau.

kiểm soát vũ khí và Mỹ đưa người lên mặt trăng
Việc Mỹ lần đầu tiên đưa con người lên Mặt Trăng là một bước tiến vĩ đại không chỉ về mặt khoa học, mà còn là tiền để thúc đẩy một trạng thái mới là “chạy đua vũ trang ngoài không gian”.

Những luận điểm cơ bản của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (tháng Bảy 1968)1à gì?

Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân là công cụ quan trọng bảo đảm sự ổn định quốc tế, thực chất là nhằm củng cố nguyên trạng trong lĩnh vực hạt nhân. Tuy còn nhiều bất đồng nhưng các siêu cường vẫn nhận thức được rằng việc phổ biến vũ khí nguyên tử và mở rộng danh sách các nước sở hữu vũ khí nguyên tử sẽ làm phức tạp thêm tình hình chiến lược và quá trình đàm phán về việc chính đến tình hình này. Việc mở rộng phạm vi các nước tham gia đàm phán đã giảm khả năng dự báo tình hình, gây phức tạp đối với việc quản lý các cuộc khủng hoảng và dẫn tới giảm bớt vai trò của các siêu mỏng trung chính trị. Và từ đây, sự xuất hiện của các quốc gia hạt nhân mới, như dự đoán, mâu thuẫn về quyền lợí với các “cựu“ quốc gia. Vậy nên, các siêu cường rất sốt sắng với việc ký kết hiệp ước này.

Moscow nhận thấy hiệp ước này là hấp dẫn bởi trong trường hợp Cộng hòa liên bang Đức tham gia hiệp ước thì vấn đề Tây Đức tiếp xúc với “câu lạc bộ hạt nhân“ có thể sẽ được loại bỏ.

Tuy nhiên, hiệp ước chỉ có ý nghĩa trong trường hợp số lượng các nước tham gia phải đủ lớn. Cần phải tạo ra xung lực thúc đẩy sự tham gia của cả các nước không có vũ khí hạt nhân mà ở đây chính là sự quan tâm nắm được công nghệ sử dụng nguyên tử một cách hòa bình nhỏ tác động của các cường quốc hạt nhân và các tổ chức chuyên môn của quốc tế.

Nhiều quốc gia gặp khó khăn trong việc cung cấp năng lượng, trong khi việc ứng dụng nguyên tử vì mục đích hòa bình lại là phương thức bảo đảm được nguồn năng lượng giá rẻ. Đồng thời, đa số các quốc gia này lại không có khả năng về công nghệ và nhiên liệu cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử. Các nước không hạt nhân rất quan tâm đến việc hợp tác với các nước nắm giữ công nghệ hạt nhân nhằm xây dựng mạng lưới điện hạt nhân riêng của quốc gia mình. Vì vậy, các quốc gia không hạt nhân sẵn sàng chấp nhận cam kết từ bỏ việc sử dụng nguyên tử vào mục đích chiến tranh và đồng ý với những thủ tục kiểm soát, mà theo các điều khoản của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, những thủ tục này chế ước sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng nguyên tử vì mục đích hòa bình. Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân phải là sự thỏa hiệp giữa các nước sở hữu hạt nhân và các nước không sở hữu hạt nhân.

Bản dự thảo hiệp ước đã được thảo luận từ tháng Chín 1965, khi đoàn đại biểu Liên Xô trình lên kỳ họp lần thứ XX của Đại hội đồng Liên hợp quốc xem xét. Sau khi được bổ sung, phương án cuối cùng của dự thảo đã được thông qua tại kỳ họp lần thứ XXII của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào tháng Sáu 1968 và được đưa ra ký kết từ ngày 1 tháng Bảy 1968. Ngay trong ngày hôm đó, bản hiệp ước đã được lãnh đạo của ba cường quốc hạt nhân hàng đầu đồng thời ký kết tạị Moscow, Washington và Luân Đôn. Ngay sau đó, Công hòạ liên bang Đức và Nhật Bản cũng tham gia hiệp ước. Trong số các quốc gia hạt nhân, Pháp và Cộng hòa nhân dân Trung Hoc là hai nước từ chối không ký kết. Các nước khác bao gồm Ấn Độ, Pakixtan, Cuba, Braxin, Israel và nhiều nước Arập, Nam Phi và một số nước khác cũng không tham gia ký hiệp ước. Hiệp ước được ký kết có thời hạn là 25 năm và có khả năng được tiếp tục kén dài (từ năm 1993 đã được kéo dài vô thời hạn). Hiệp ước đề cập việc không có điều gì trong số các điều khoản hạn chế quyền của các nước không hạt nhân sử dụng năng lượng nguyên từ vì mục đích hòa bình một khi tuân thủ các điều kiện kiểm soát từ phía Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) được gọi là những bảo đảm của IAEA. Với việc ký kết hiệp ước, Liên Xô, Mỹ và Anh đã tuyên bố về việc dành cho những nước tham gia hiệp ước với tư cách là những nước không hạt nhân sự bảo đảm không để xảy ra một cuộc tấn công nguyên tử vào những nước này. Ngày 19 tháng Sáu 1968, những bảo đảm này đã được ghi nhận trong nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việc ký kết hiệp ước đã làm mất đi ý nghĩa của chương trình các lực lượng hạt nhân đa phương, và một điều khiến Moscow hài lòng là việc hiện thực hóa chương trình này đã được loại khỏi chương trình nghị sự.

  1. Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
  2. Mỹ đã biến Nhật Bản thành quốc gia như thế nào sau thế chiến 2?
  3. Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai (tháng 8.1961), theo tài liệu của thầy Lê Phụng Hoàng

  4. Vấn đề 29: Khái niệm phản ứng linh hoạt trong chiến tranh Lạnh
    Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

 

Bình Luận