Cục diện chiến lược quân sự toàn cầu thay đổi như thế nào trong nửa sau thập niên 1950? Nhân tố công nghệ quân sự có ảnh hưởng như thế nào đến cục diện? Những tham số lập trường của Liên Xô về Tây Berlin được siết chắc vào tháng 11 năm 1958 là gì? “Tối hậu thư của Khrushchev về cuộc khủng hoảng Berlin có nội dung gì?

Liên Xô và Mỹ bắt đầu đối thoại về vấn đề kiểm soát vũ khí. Moscow đã có thời gian ngừng đưa ra những chương trình phi thực tế về giải trừ vũ khí triệt để. Washington bắt đầu đón nhận những đề nghị của Liên Xô một cách nghiêm túc hơn. Trọng tâm của thảo luận là những vấn đề về hạn chế các vụ thử hạt nhân. Các cuộc đàm phán được tiến hành chậm chạp nhưng nhìn chung là có kết quả. Dự kiến một hiệp định phù hợp sẽ được ký kết vào khoảng giữa năm 1957. Thế nhưng, lại nảy sinh ra một vấn đề mới giữa hai siêu cường là cuộc khủng hoảng Berlin.

Chiến lược quân sự của Mỹ đã có những thay đổi, xuất phát từ một trong số những nguyên nhân do phải chịu áp lực của các đồng minh Châu Âu, những nước lo sợ trong trường hợp xảy ra xung đột Xô Mỹ thì chính họ sẽ trở thành những nạn nhân đầu tiên. Tháng Mười hai 1956, kỳ họp của hội đồng NATO đã tán thành chiến lược mới của liên minh. Các quyết định của hội đồng có đề cập nhu cầu phải thành lập những đơn vị bộ hình lớn ở Châu Âu, có khả năng kiềm chế những đòn giả định, hạn chế của Liên Xô. Các văn bản đặc biệt nói rõ: không được sử dụng vũ khí hạt nhân trong những cuộc xung đột cục bộ quy mô nhỏ.

Trong kỳ họp tháng Mười hai 1956, các nước Châu Âu chứng tỏ mong muốn mở rộng quy mô hợp tác với Washington trong lĩnh vực hạt nhân. Chính quyền Mỹ bắt đầu nghiêng về việc trao cho các đồng minh Châu Âu quyền tiếp cận vũ khí hạt nhân của Mỹ trong những hoàn cảnh đặc biệt. Những thỏa thuận với Liên Xô nhằm hạn chế các vụ thử hạt nhân có thể sẽ cản trở việc tổ chức hợp tác của Mỹ với Châu Âu. Do các đồng minh gây sức ép, lên án việc Washington xem thường quyền lợi an ninh của họ, chính quyền Mỹ đã đưa ra lập trường đàm phán cứng rắn của mình trong vấn đề thử vũ khí hạt nhân mà trước đây Mỹ đã kìm lại. Điều này đã khiến Moscow có phản ứng khinh mạn.

Vấn đề là ở chỗ tương quan về khả năng quân sự giữa Liên Xô và Mỹ đã có những thay đổi vào giữa những năm 1950. Theo đánh giá của các chuyên gia phương Tây, Liên Xô đã bù đắp sự tụt hậu so với Mỹ bằng giá trị của việc tập trung các nguồn lực cho nghiên cứu công nghệ quốc phòng.

Tình hình đã thay đổi vào mùa hè 1957. Ngày 27 tháng 7, một thông báo được đưa ra về việc Liên Xô thử nghiệm thành công tên lửa đạn đạo đa tầng. Tháng Mười 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất, có khả năng thực hiện chuyến bay theo quỹ đạo quanh quả đất. Đây được xem là bước đột phá lớn về công nghệ. Tên lửa đạn đạo liên lục địa có khả năng mang đầu đạn vào không gian quanh trái đất và trực tiếp tiêu diệt các mục tiêu tại bất kỳ điểm nào trên trái đất từ quỹ đạo vũ trụ. Vũ khí mới này đã loại trừ khả năng bất khả chiến bại về chiến lược của Mỹ.

Các đồng minh Châu Âu của Mỹ đã chỉ ra ưu thể rõ rệt của Liên Xô và yêu cầu Washington phải tăng cường viện trợ công nghệ quốc phòng. Về phần mình, chính quyền D. Eisenhower coi việc giúp đỡ các đồng minh Châu Âu tạo ra “vũ khí hạt nhân Châu Âu” là biện pháp thỏa đáng để các đồng minh của Washington có thể tạo khả năng đối trong hạt nhân của riêng mình với Liên Xô và cũng có thể là để giảm bớt gánh nặng tương ứng của Mỹ. Chính vì vậy, Washington đã sẵn sàng mở rộng cửa đôi chút cho các đồng minh Châu Âu tiếp cận với công nghệ của Mỹ. Chính sách này có tên gọi là tham gia hạt nhân” hoặc là “chia sẻ hạt nhân“ (nuclear sharing). Đặc điểm của chính sách này là ở chỗ tuy giúp đỡ các nước Tây Âu trong lĩnh vực hạt nhân nhưng Mỹ đã có ý tưởng xây dựng không phải là tiềm lực hạt nhân cho mỗi nước đồng minh riêng rẻ mà là tiềm lực kiềm chế hạt nhân chung cho cả Tây Âu, và đó có thể sẽ là nguồn bổ sung tiềm lực hạt nhân của Mỹ

Khái niệm “loại bỏ” và học thuyết “trừng phạt tập trung’ trong những điều kiện biến động xem ra có vẻ phiêu lưu. Những bước tiến chiến lược và mang tính khái niệm này đã diễn ra trên phông nền của sự phát triển tình hình như vũ bão ở Liên Xô. Tháng Năm 1957, N.S. Khrushchev đã thâu tóm quyền lực cao nhất trong đảng cầm quyền và cả chính quyền hành pháp cao nhất. Ông hoàn toàn không bị ràng buộc trong mọi cách hành xử của mình.

Mỹ bố trí hạt nhân Châu Âu
Thời điểm những năm 50 của thế kỉ trước là thời điểm vô cùng nhạy cảm trong Chiến tranh lạnh vì khao khát sở hữu vũ khí hạt nhân của Châu Âu rất cao, với mục đích ngăn ngừa và tăng khả năng răn đe đối với Liên Xô.

Vì sao Mỹ bố trí vũ khí hạt nhân ở Châu Âu?

Sự lo ngại của các nước Châu Âu trước sức mạnh gia tăng của Liên Xô được Washington đón nhận một cách rất nghiêm túc, phòng trường hợp Châu Âu “bị Moscow đe dọa” sẽ từ bỏ hợp tác với Mỹ.

Ngay từ ngày 24 tháng Ba 1957, tại quần đảo Bermudes đã diễn ra cuộc gặp mặt giữa thủ tướng mới của Anh là Harold Macmillan (thế chỗ cho Anthony Eden rời nhiệm sở sau khủng hoảng kênh đào Suez) với Tổng thống Mỹ D. Eisenhower. Nhiệm vụ của ngành ngoại giao hai nước là khắc phục tình trạng bất tín nhiệm vào quan hệ Anh Mỹ sau năm 1956.

Với mong muốn thuyết phục được Luân Đôn rằng Mỹ sẵn sàng nhanh chóng thực hiện nghĩa vụ đồng minh của mình đối. Với Anh, phía Mỹ đã đề nghị đưa vào các văn kiện chung một điều mục tính phụ thuộc tương liên” giữa Mỹ và Anh trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Để khẳng định luận điểm này, hai bên đã ký hiệp định về việc bố trí trên các hòn đảo của Anh các tên lửa của Mỹ thuộc căn cứ không quân “Skybolt”, có tầm hoạt động trung bình, nhằm bảo đảm an ninh thực sự cho Anh trong trường hợp nổ ra xung đột với Liên Xô hoặc có mối đe dọa từ phía Moscow, tương tự mối đe dọa gây xôn xao trong thời kỳ khủng hoảng kênh đào Suez. Các tên lửa này đều được trang bị đầu đạn hạt nhân. Ngoài phạm vi thỏa thuận, vẫn tồn tại một vấn đề là ai sẽ là người có quyền ra lệnh trong tình trạng khẩn cấp về việc phóng các tên lửa của Mỹ.Thủ tướng nước Anh, nơi đặt tên lửa của Mỹ, hay Tổng thống Mỹ, ông chủ của các quả tên lửa. Những sự mập mờ này cho phép Anh hy vọng rằng quyền chủ khiến các tên lửa của Mỹ, trên thực tế, là được trao cho người Anh. Eisenhower không khẳng định nhưng cũng không bác bỏ giả định ấy.

Eisenhower là người thiên hướng xây dựng tiềm lực hạt nhân thống nhất của Châu Âu đặt dưới quyền chỉ huy của NATO, không muốn thúc đẩy việc xây dựng sức mạnh hạt nhân riêng rẽ của từng nước Tây Âu, kể cả Cộng hòa liên bang Đức. Tuy nhiên, D. Eisenhower không có ý định tranh cãi và các đồng minh Châu Âu.

Sự lo lắng của các nước Châu Âu sau khi Liên Xô chế tạo thành công tên lửa liên lục địa đã thúc đẩy Mỹ phải mở rộng “công thức phụ thuộc tương liên” ra toàn thế các nước thành viên NATO. Quyết định thích ứng đã được thông qua tại kỳ họp của hội đồng liên minh vào tháng 12 năm 1957. Kèm theo quyết định là các thỏa thuận về việc bố trí trên lãnh thổ một số nước thành viên NATO, trong đó có Cộng hòa liên bang Đức, các vũ khí hạt nhân và tên lửa của Mỹ, tương tự những gì mà Mỹ và Anh đã ký với nhau trước đây. Tên lửa “Thor” được bố trí trên lãnh thổ Italia, còn tại Thổ Nhĩ Kỳ lắp đặt tên lửa “Jupiter”.

Quyết định về việc bố trí vũ khí hạt nhân của Mỹ ở châu Á được Moscow coi là một bước tiến tới “vũ trang hạt nhân“ cho Cộng hòa liên bang Đức, Phía Liên Xô yêu cầu gạt Cộng hòa liên bang Đức ra khỏi danh sách các nước có thể được bố trí tên lửa. Trong vòng một vài năm sau đó, Mỹ đã chuyên chở sang Tây Âu gần 500 đơn vị vũ khí hạt nhân, kể cả các bom khinh khí và đầu đạn tên lửa. Theo ý kiến của ngay cả các chuyên gia phương Tây: việc kiểm soát số vũ khí này, trên thực tế hoàn toàn nằm trong tay các chính phủ tiếp nhận. Điều này tạo cơ sở để Moscow cho rằng việc bố trí vũ khí hạt nhân của Mỹ ở Cộng hòa liên bang Đức có nghĩa là cho phép Cộng hòa liên bang Đức tiếp cận với vũ khí hạt nhân.

Những nguyên nhân gì dẫn đến căng thẳng trong quan hệ giữa các siêu cường xung quanh vấn đề nước Đức trong khoảng thời gian xuân hè 1958?

Nhằm trả đũa quyết định của hội đồng NATO thông qua vào tháng 12 năm 1957 về việc bố trí các tên lửa của Mỹ ở Tây Âu và Thổ Nhĩ Kỳ và việc bắt đầu lập kho chứa các đầu đạn hạt nhân trên lãnh thổ các nước Tây Âu, kể cả ở Cộng hòa liên bang Đức, Liên Xô đã đưa ra một giải pháp bất tương xứng: tháng 1 năm 1958, Moscow tuyên bố cắt giảm quân số lực lượng vũ trang 300 ngàn người. Biện pháp này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: các công trường trong nước cần nhiều công nhân; cần phải đẩy lùi sự bất bình vì đã lôi kéo nam giới thoát ly cuộc sống yên ổn và gia đình; tình hình chính trị ở các nước Đông Âu buộc phải làm mờ nhạt đi sự hiện diện của Liên Xô tại những nước đó; và điều chủ yếu là mối quan tâm ngày càng tăng của Ban lãnh đạo Xô Viết đối với thành tố hạt nhân trong tiềm lực quốc phòng đã đi kèm với sự xuất hiện ý kiến về việc giảm bớt vai trò của lực lượng bộ binh trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh lớn. Liên Xô có đủ sức chiến thắng trong một cuộc chiến tranh nhỏ ở Châu Âu với quân số ít hơn bởi dù có cắt giảm quân số thì quân đội Liên Xô vẫn vượt trội hơn quân đội của các quốc gia Tây Âu.

Động thái này nhằm tỏ rõ thiện chí hòa bình của Liên Xô Và là công cụ để lôi kéo về phía mình dư luận của các quốc gia Tây Âu, trước hết là Cộng hòa liên bang Đức, là nước chuẩn bị phê chuẩn hiệp định về việc bố trí vũ khí hạt nhân của Mỹ trên lãnh thổ của mình. Liên Xô đã có những phản ứng đầy bất mãn trước việc khôi phục sức mạnh quân sự của Cộng hòa liên bang Đức. Sách lược ngoại giao Xô Viết được xây dựng trên cơ sở kết hợp các sáng kiến hòa bình đối với việc thống nhất nước Đức trong điều kiện nước Đức phải là một quốc gia trung lập với việc biểu dương lực lượng và đe dọa các nước phương Tây.

Các quốc gia phương Tây không từ bỏ ý tưởng củng cố của mình trong sự hợp tác với Mỹ và tăng cường từ từ tiềm lực quân sự của Cộng hòa liên bang Đức. Nhưng tiến trình theo hướng này của họ là rất thận trọng. Các nước đồng minh phương Tây vẫn quyết tâm đối đầu với Liên Xô, nhưng không một nước nào dám mạo hiểm trong một cuộc chiến tranh lớn nếu không hết sức bức thiết. Các nước NATO cố gắng kiềm chế đối đầu với Moscow trong phạm vi kiểm soát và đẩy mạnh tiềm lực của liên minh bằng cách sao cho, về hình thức, điều này không vượt quá giới hạn khả năng phòng thủ. Dựa vào những luận cứ như vậy, tháng 3 năm 1958, Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức đã có thể thuyết phục được quốc hội phê chuẩn hiệp định về việc bố trí các đầu đạn hạt nhân của Mỹ trên lãnh thổ của mình. Liên Xô đánh giá quyết định này là bước tiến tới vũ trang hạt nhân cho Cộng hòa liên bang Đức. Tháng Năm 1958, tại Moscow đã tiến hành hội nghị các nước thành viên của Tổ chức Hiệp ước Vácsava. Hội nghị tán đồng sách lược hành động trong vấn đề nước Đức. Tháng 7 năm 1958, Cộng hòa dân chủ Đức đưa ra đề nghị ký kết hiệp ước hòa bình với nước Đức theo chiều hướng ý tưởng của Liên Xô về việc cả hai miền nước Đức từ bỏ ý đồ sở hữu vũ khí hạt nhân. Như vậy là Moscow đã đưa lập trường mềm mỏng hơn. Điều kiện trung lập hóa nước Đức đã được thay thế bằng yêu cầu ôn hòa hơn là không được phép vũ trang hạt nhân nước Đức.

khủng hoảng Berlin
Tranh biếm họa về hai nước Đức trong mối quan hệ Xô-Mỹ.

Những tham số lập trường của Liên Xô về Tây Berlin được siết chặt vào tháng 11 năm 1958 là gì? “Tối hậu thư của Khrushchev về cuộc khủng hoảng Berlin ” có nội dung gì?

Những biểu hiện “mềm mỏng” của Moscow được đón nhận ở Mỹ như là những biện pháp cần thiết, còn những biểu hiện ứng rắn được coi là dấu hiệu của những ý đồ xâm lược. “Sự vô ơn” của các chính trị gia Mỹ đã đẩy N.S. Khrushchev đến những bước đi thiếu suy nghĩ.

Ngày 27 tháng 11 năm 1958, Chính phủ Liên Xô đã gửi bức công hàm cho Mỹ, Anh và Pháp với nội dung gay gắt, yêu cầu ký kết hiệp ước hòa bình với Đức trong vòng sáu tháng (đến 29 tháng 5 năm 1959). Trong trường hợp không đạt được điều này, Chính phủ Liên Xô dự tính sẽ ký kết hiệp ước hòa bình riêng rẽ với Cộng hòa dân chủ Đức và chuyển giao cho chính phủ nước này trách nhiệm bảo đảm quy chế đặc biệt của Berlin và bảo lãnh cho các nước phương Tây được tiếp cận với khu vực phía tây thành phố. Cho tới lúc này, các nước phương Tây không có quan hệ ngoại giao với Cộng hòa dân chủ Đức, còn Tây Berlin, trên thực tế, thực hiện chức năng như một phần lãnh thổ của Cộng hòa liên bang Đức, mặc dù Liên Xô chính thức không công nhận vấn đề này.

Từ bức công hàm này có thể suy ra rằng, sau sáu tháng đó Liên Xô sẽ chấm dứt những thỏa thuận ràng buộc đã ký những năm trước đó giữa Liên Xô với các nước phương Tây về vấn đề Tây Berlin. Có thể dự đoán rằng, các thỏa thuận về việc bảo đảm cho các đại diện phương Tây đi vào phần lãnh thổ Tây Berlin qua lãnh thổ Đông Đức sẽ chấm dứt thực hiện. Phương Tây đánh giá bức công hàm của Liên Xô là lời đe dọa khôi phục lại việc phong tỏa thành phố. Tính tối hậu thư trong yêu sách của Moscow đã gây căng thẳng đặc biệt: Liên Xô nhất mực đòi giải quyết vấn đề trong vòng sáu tháng. Trên báo chí, bức công hàm gửi tháng 11 được gọi với cái tên là “tối hậu thư của Khrushchev về cuộc khủng hoảng Berlin”, Nhiều tác giả cho rằng, bức công hàm này khởi đầu cho cái gọi là cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai, kéo dài cho đến năm 1961. Mặc dù, trên thực tế, sự căng thẳng xung quanh Tây Berlin vẫn duy trì suốt những năm đó, nhưng việc sử dụng thuật ngữ “khủng hoảng” trong suốt thời kỷ gần ba năm đó là không có cơ sở.

Chính phủ Liên Xô ngay lập tức phủ nhận tính chất tối hậu thư trong công hàm của mình. Ngày 5 và 10 tháng 11 năm 1959, chính phủ Liên Xô thông báo cho các nhà lãnh đạo Mỹ, Pháp và Anh rằng, Liên Xô không cố ý đòi hỏi phải giải quyết vấn đề Tây Berlin trong thời hạn quy định đầu tiên. Trên thực tế, Công hàm tháng Mười một 1958 đã trở thành lối diễn đạt thông thường trong chương trình của Liên Xô về việc giải quyết vấn đề nước Đức. Từ tháng 1 năm 1959, lập trường của Moscow trở nên mềm mỏng hơn: Liên Xô đề nghị ký hiệp ước hòa bình hoặc với hội nghị được tổ chức của hai quốc gia Đức, hoặc với thậm chí hai quốc gia Đức đang tồn tại, với điều kiện cả hai phải thừa nhận đường biên giới sau chiến tranh ở Châu Âu và phải từ chối không tham gia vào các khối quân sự.

Nét đặc trưng trong đường lối ngoại giao của N .S. Khrushchev trước hết là muốn thử “đứng trên lập trường sức mạnh”, gây áp lực tâm lý lên đối phương, sau đó mới đưa ra một công thức thỏa hiệp tương đối mềm dẻo. Sách lược này không phải bao giờ cũng đem lại kết quả.

Kết quả cuộc gặp Xô Mỹ tại Viên ra sao? Vì sao phải xây dựng bức tường Berlin?

Liên Xô đã đề nghị Ban lãnh đạo mới của Mỹ quay lại đàm phán vấn đề nước Đức. Địa điểm được chọn cho cuộc gặp Xô Mỹ là một lãnh thổ trung lập ~thành phố Viên, thủ đô nước Áo. Có hai vấn đề khiến Liên Xô lo lắng là công nhận đường biên giới phía Đông nước Đức và không cho phép chế tạo vũ khí hạt nhân ở Cộng hòa liên bang Đức. Ngày 3 tháng Sáu 1961, cuộc gặp mặt bắt đầu.

Báo chí Liên Xô và phương Tây cho rằng, trong các cuộc thương nghị ở Viên, N.S. Khrushchev-người hơn Kennedy về tuổi tác và kinh nghiệm, đã đánh giá thấp đối tác người Mỹ của mình khi cho rằng Kennedy là kẻ “nhu nhược“ và “yếu đuối”.  Nhà lãnh đạo Xô Viết đã thể hiện khả năng tranh luận không cần thiết và đã để tuột mất cơ hội thỏa hiệp. NS. Khrushchev, lại một lần nữa, tương tự như những gì ông đã làm hồi năm 1958, kiên quyết đặt ra vấn đề ký hiệp ước hòa bình với Đức cùng với những điều khoản cấm chế tạo vũ khí hạt nhân ở cả hai miền nước Đức. Liên Xô tuyên bố với phía Mỹ rằng, họ coi toàn bộ Berlin là lãnh thổ của Cộng hòa dân chủ Đức và không thấy có cơ sở nào để duy trì một quy chế đặc biệt đối với khu vực phía tây thành phố.

Kennedy đồng ý với việc cần phải hạn chế viện trợ quân sự cho Đức. Nhưng ông cho rằng, phương sách tốt nhất là giữ nguyên sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đức trong một thời gian dài vô hạn định. Về phần mình, điều ấy có nghĩa là, theo logic của Kennedy, duy trì nguyên trạng ở Tây Berlin.

Về nguyên tắc, lập trường của Moscow trong tất cả những vấn đề đều không liên quan đến quy chế của Tây Berlin mà phù hợp với tinh thần mới của Washington hơn là đối lập với tinh thần đó. Nhưng vấn đề về quy chế Tây Berlin lại là vấn đề mang tính nguyên tắc. Ngoài ra, giọng điệu của N.S. Khrushchev bị phía Mỹ coi là khiêu khích, nhà lãnh đạo Xô Viết đe dọa sẽ không bảo đảm quyền lợi của các nước phương Tây ở Tây Berlin trong trường hợp kéo dài việc thông qua các đề nghị của phía Liên Xô. Kennedy cũng quyết định thể hiện tính cứng rắn và tuyên bố rằng trong trường hợp cần thiết, Mỹ sẽ chiến đấu vì Tây Berlin. Việc trao đổi thẳng thừng những răn đe vốn giấu kín như thế và cuộc nói chuyện hết sức gay gắt giữa lãnh đạo hai nước chưa từng có tiền lệ. Cuộc gặp không mang lại kết quả mong muốn.

Hơn thế nữa, tình hình xung quanh Tây Berlin đã trở nên phức tạp. Ngày nào cũng có những dòng người là công dân Cộng hòa dân chủ Đức đổ dồn sang khu vực phía Tây thành phố mà không thể ngăn cản họ lại được. Các nhà ngoại giao phương Tây cho rằng, toàn bộ Đông Đức rồi nay mai sẽ đồng loạt nổi dậy chống cộng sản. Ngày 25 tháng Bảy 1961, sau khi `“trở về từ Viên, trong một bức điện gửi quốc dân, Tổng thống J. Kennedy đã khẳng định chắc chắn lập trường của trước N.S. Khrushchev: nước Mỹ sẽ chiến đấu vì Tây Berlin nếu Liên Xô mưu toan dùng vũ lực để thay đổi quy chế thành phố. Nhưng Liên Xô không có ý định gây chiến. Ngày 13 tháng 8 năm 1961, việc xây dựng bức tường bê tông dọc theo biên giới Tây Berlin đã được hoàn tất trong vòng một đêm, một công việc đã bắt đầu từ lâu, nhưng là xây bốn phần phía Đông Berlin.Việc đi sang phía Tây được phép chỉ khi thông qua các trạm kiểm soát qua lại. Không có biện pháp nào gây khó để cho các đại diện phương Tây tiếp cận với Tây Berlin, Liên Xô chỉ áp dụng những hành động này trong phạm vi “vùng ảnh hưởng” riêng. Không thể coi đó là hành động xâm lược. Việc xây dựng “bức tường Berlin” bị phương Tây lên án. Tuy nhiên, phản ứng chính trị của các nước phương Tây lại dè dặt … cả Anh và Pháp đều không có biện pháp cứng rắn trước hành động của Moscow. Trên thực tế, những hành động này của Liên Xô chỉ góp phần củng cố nguyên trạng vấn đề Berlin mà thôi. Nhưng vấn đề nước Đức vẫn chưa được vãn hồi. Hiệp ước hòa bình với Đức chưa được ký kết, mà Cộng hòa dân chủ Đức cũng chưa được các nước phương Tây công nhận.

bức tường berlin.
Ảnh một cặp đôi giữa hai miền nước Đức đang hôn nhau, minh chứng cho sư mãnh liệt của tình yêu cho dù bị chia cắt.

Bài viết có thể bạn quan tâm:

  1. Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
  2. Mỹ đã biến Nhật Bản thành quốc gia như thế nào sau thế chiến 2?
  3. Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai (tháng 8.1961), theo tài liệu của thầy Lê Phụng Hoàng
    Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

 

Chia sẻ

Bình Luận