Hiệp ước Roma và sự thành lập Cộng đồng kinh tế Châu Âu. Các quá trình hội nhập ở châu Âu

Nội dung vấn đề:

……› Hội nghị các nước trong Cộng đồng than thép châu Âu ở Messin (tháng 6 năm 1955) có ý nghĩa như thế nào đối với sự hội nhập?

…› Việc tăng cường các xu thế hội nhập ở Tây Âu có những hình thức gì? Cộng đồng kinh tế châu Âu được thành lập như thế nào?

Hội nghị các nước trong Cộng đồng than thép châu Âu ở Messin (tháng Sáu 1955) có ý nghĩa như thế nào đối với sự hội nhập?

_ Sau thất bại của dự án Cộng đồng kinh tế, các nước Tây Âu đã phải chấp nhận một thực tế: sự hợp tác hội nhập trong bối cảnh chiến tranh là điều không khả thi. Nhưng điều đó không có nghĩa là phải từ bỏ hoàn toàn ý tưởng hội nhập châu Âu. Các nhà lãnh đạo của châu Âu đại lục quyết định tiếp tục mối quan hệ tương hỗ siêu quốc gia trong lĩnh vực kinh tế. Thuật ngữ “Kinh tế hóa” trong khái niệm hội nhập Tây Âu được nhấn mạnh trong cuộc gặp của sáu nước Cộng đồng than thép diễn ra tại Messin (Italia) trong các ngày 1-2 tháng 6 năm 1955. Vấn đề quan trọng của hội nghị là việc quyết định thành tập uỷ ban chuyên trách có nhiệm vụ nghiên cứu khái niệm hội nhập Tây Âu về chính trị-kinh tế với việc nhấn mạnh sự hợp tác trong phát triển thị trường chung châu Âu. Hướng hội nhập này về sau được gọi là hội nhập tuyến trục.

Hội nghị cũng dành nhiều sự quan tâm đến việc hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, trước hết là trong việc sử dụng hạt nhân một cách hòa bình. Các mục tiêu trong lĩnh vực chính sách kinh tế của các nước thành viên đã được trình bày, trong đó, mục tiêu hàng đầu là xây dựng một “thị trường chung” tự do tránh đánh thuế và các hạn chế về số lượng.

Hội nghị Messin mở đầu cho một giai đoạn hội nhập mới. Đó là, việc củng cố vị thế của Tây Âu trong nền kinh tế thế giới, những bước tiến đáng kể trong cơ cấu kinh tế của các nước Tây Âu, tăng cường chuyên môn hóa, đẩy mạnh tự động hóa sản xuất nhờ cách mạng khoa học kỹ thuật, việc tập trung sản xuất và xây dựng những xí nghiệp lớn đòi hỏi sự phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của thị trường quốc gia và hợp tác trên phạm vi thế giới. Kinh nghiệm hoạt động của Cộng đồng than thép đem đến niềm hy vọng thành công. Rõ ràng là sự gia tăng trao đổi thương mại lẫn nhau các sản phẩm của Cộng đồng than thép giữa sáu nước thành viên đã vượt qua cả sự tăng trưởng thương mại chung giữa họ.

cộng đồng kinh tế châu âu
Tranh biếm họa của họa sĩ Pinatel về hiệp ước Roma và sự hình thành cộng đồng kinh tế châu âu với sự chênh lệch phát triển quá lớn.

Việc tăng cường các xu thế hội nhập ở Tây Âu có những hình thức gì? Cộng đồng kinh tế châu Âu được thành lập như thế nào?

”Sự bẽ mặt mang tên Suez” của Pháp và Anh được đánh giá là một thất bại ngoại giao của hai nước này ở Tây Âu và khiến những người châu Âu nói chung phải hổ thẹn, là cái tát của Liên Xô và của Mỹ vào mặt họ. Ở châu Âu người ta bực bội với Mỹ và tức giận vì sự thô thiển mà vì nó người Mỹ đã khiến cho người châu Âu có cảm giác rằng sự độc lập của họ phải phụ thuộc vào Washington.

Trong khi đó, người châu Âu cũng có cơ sở để đưa ra cách đánh giá mới về quan hệ của mình với Mỹ. Mặc dù châu Âu đã khôi phục được sức mạnh của mình nhờ vào nguồn tiền của “kế hoạch Marshall” nhưng lại yếu đuối trước một nước Mỹ như vào những năm đầu sau chiến tranh. Mối tương quan các khả năng kinh tế giữa Mỹ và các nước Tây Âu đã có những chuyển biến. Trong một chừng mực đáng kể, châu Âu đã khắc phục được tình trạng kinh tế tụt hậu nhờ phát triển nhanh hơn Mỹ. Sản xuất công nghiệp ở Tây Âu năm 1955 đã tăng 40% so với năm 1950 (Cộng hòa liên bang Đức tăng 81%, Italia 56%, Pháp 36%), Mỹ chỉ tăng 24%. Năm 1948, Mỹ chiếm 53,4% tỷ trọng trong sản xuất công nghiệp thế giới của các nước phương Tây, trong khi tỷ trọng này của toàn Tây Âu là 30,4%. Năm 1953, Mỹ đã giảm tỷ trọng này xuống còn 48%, Tây Âu lại tăng lên đến 34%.

Điều đó đã thôi thúc Tây Âu vượt qua những bất đồng nội bộ, tăng cường hợp tác nhằm củng cố vị thế chính trị và kinh tế của mình. Hiển nhiên, trong cao trào khủng hoảng Suez, ngày 5 tháng 11 năm 1956, các đại diện của Cộng hòa liên bang Đức và Pháp (Thủ tướng Pháp Guy Mollet và Thủ tướng Cộng hòa liên bang Đức Konrad Adenauer) đã đạt được thỏa thuận với nhau về những vấn đề tranh chấp xung quanh những hiệp định hội nhập, được soạn thảo từ mùa hè 1955, theo những quyết nghị của Hội nghị Messin. Trong những tháng tiếp theo, các dự thảo hiệp định đã được bổ sung và thống nhất với các nước khác trong Công đồng than thép.

Ngày 25 tháng Ba 1957, tại Rome, các nước “bộ lục” (Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Italia và các quốc gia Benelux) đã ký kết hai hiệp ước mới quan trọng, có hiệu lực vô thời hạn về Cộng đồng kinh tế châu Âu và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom). Giờ đây, ở Tây Âu đã tồn tại ba “cộng đồng”: 1) than thép; 2) năng lượng nguyên tử; và 3) thương mại.

Hiệp ước về việc thành tập Công đồng kinh tế châu Âu quy định hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, khoa học và kỹ thuật, trong đó có việc xây dựng thị trường chung và định ra các hình thức xích tại gần nhau, thống nhất chính sách kinh tế của các nước thành viên. Hiệp ước này nhằm giảm dần các rào cản thuế quan giữa các quốc gia thành viên trong vòng 12 năm (tức đến năm 1969) theo ba giai đoạn, cũng như việc chấp nhận biểu thuế quan duy nhất và thực hiện chính sách thương mại thống nhất đối với các nước thứ ba. Như vậy, ý tưởng “dỡ bỏ thuế quan được đưa ra trong Hội nghị Messin đã được hiện thực hóa.

Những nước tham gia “thị trường chung” cam kết cố gắng dỡ bỏ những rào cản để có thể luân chuyển sức lao động nguồn vốn và các dịch vụ giữa họ. Các nước thỏa thuận tiến hành chính sách chung trong lĩnh vực nông nghiệp và giao thông, đạt sự gắn kết về luật pháp kinh tế và góp phần tiêu chuẩn hóa các thủ tục soạn thảo và thông qua những quyết định đã đạt được trong các vấn đề thực hiện chính sách kinh tế của mỗi nước thành viên.

Việc đưa vào Hiệp ước Rome những điều khoản về thống nhất các chính sách kinh tế và áp dụng những quy chuẩn chung trong soạn thảo nghị quyết ngụ ý về tính tất yếu của việc chuẩn hóa trong tương lai một số những thực tiễn chính trị như là một điều kiện tối thiểu. Về phần mình, điều này cũng được ngầm hiểu là phải thúc đẩy hội nhập chính trị. Tây Âu bắt đầu khẳng định một loại hình tương tác mới, cho phép thông qua thực tiễn lâu dài về hài hòa những quyền lợi kinh tế và chính trị mâu thuẫn của các nước thành viên trong tương lai để tiến tới hình thành chính sách kinh tế thống nhất.

Trong phát triển hội nhập kinh tế, mỗi nước có những quyền lợi riêng. Vị thế của Cộng hòa liên bang Đức được xác lập, bởi năm 1957, nước này đã chiếm gần 45% sản xuất và trên 44% xuất khẩu công nghiệp trong tổng số sản phẩm của “bộ lục“. Các giới cầm quyền Cộng hòa liên bang Đức coi hội nhập như một phương thức đánh đồng quy chế với các nước khác trong cộng đồng, trước hết là với Pháp. Cộng hòa liên bang Đức, tính đến việc trở thành đầu tàu kinh tế của cộng đồng, còn đầu tàu về chính trị được nhường cho Pháp, vì Pháp chỉ chiếm có 25% sản xuất và 20% xuất khẩu hàng hóa công nghiệp của sáu nước. Quyền lợi của Italia và các nước khác trong Cộng đồng kinh tế châu Âu được xác định bằng sự hiện hữu những quan hệ chặt chẽ của họ hoặc là với Cộng hòa liên bang Đức, hoặc là với Pháp. Đồng thời, Italia tiên lượng vào việc đẩy mạnh tiêu thụ các mặt hàng nông sản của mình tại thị trường chung châu Âu.

Hiệp ước về Euratom ấn định sự hội nhập của các nước châu Âu trong lĩnh vực sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Các nước châu Âu coi đây là công cụ quan trọng nhất và triển vọng nhất để giải quyết vấn đề năng lượng ở Tây Âu. Bằng cách đó, Tây Âu mới có thể giải quyết được sự trầm trọng của khủng hoảng năng lượng kinh niên mà trước tiên là Pháp và các quốc gia Tây Âu nhỏ phải chịu đựng.

Các cộng đồng Châu Âu là những nhóm khu vực khá hẹp, quan tâm đến việc mở rộng có chọn lọc một số thành viên của mình. Nhiều nước trong “bộ lục” cho rằng, điều quan trọng là phải thu hút được sự tham gia của Anh vào Cộng đồng kinh tế châu Âu. Ở Luân Đôn cũng có những người ủng hộ hội nhập với các nước đại lục. Nhưng phần lớn các nhà chính trị Anh cho rằng, việc nhanh chóng gia nhập vào “bộ lục” sẽ phá vỡ “ưu thế đế chế” nghĩa là phá vỡ hệ thống những điều kiện biểu thuế ưu đãi trong thương mại của Anh với các quốc gia trong Cộng đồng, mà tỷ lệ đạt doanh thu của những nước này năm 1956 chiếm được trên 45% doanh thu ngoại thương của Anh.

Giới ngoại giao Anh tuy không từ bỏ ý tưởng hợp tác chặt chẽ với các quốc gia đại lục nhưng vẫn tìm kiếm hình thức hợp tác riêng với các quốc gia châu Âu. Nhằm thúc đẩy chính sách này, năm 1959, Anh đã đưa ra sáng kiến ký hiệp ước thành lập Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA), trong đó có sự tham gia của Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Áo và Bồ Đào Nha. Kể từ đó, những mâu thuẫn vốn đã tồn tại từ trước, trước hết, giữa một bên là Anh và bên kia là Pháp và Cộng hòa liên bang Đức bắt đầu được biểu hiện dưới hình thức cạnh tranh giữa hai nhóm Cộng đồng kinh tế châu Âu và Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA).

Anh không thể áp đặt khái niệm hội nhập của mình đối với các nước “bộ lục”. Nhưng bản thân Anh cũng không muốn cam kết về việc tự hạn chế chủ quyền. Về mặt chính trị, việc xây dựng một “châu Âu mạnh” đã đáp ứng được quyền lợi của Mỹ, mặc dù về mặt kinh tế điều đó không hoàn toàn phù hợp với họ. Chính quyền Mỹ cho rằng, sự hợp tác của các nước châu Âu trong Euratom sẽ thúc đẩy hình thành tiềm năng hạt nhân thống nhất của Tây Âu. Quốc hội Mỹ và Tổng thống D. Eisenhower coi đây là triển vọng rất phù hợp với quyền lợi của Mỹ. Điều này còn hơn cả việc Ủy ban năng lượng hạt nhân của Mỹ, cũng như những người đứng đầu ủy ban này cho rằng, phổ biến công nghệ hạt nhân là việc làm nguy hiểm.

Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

Bài viết có thể bạn quan tâm:

  1. Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
  2. Mỹ đã biến Nhật Bản thành quốc gia như thế nào sau thế chiến 2?

Đề xuất tạp chí cánh hữu đầu tiên tại Việt Nam-Tạp Chí Real News liên kết với chúng tôi nếu các bạn quan tâm đến chủ nghĩa tự do và cánh hữu.

Link: https://www.facebook.com/nxbanhxeom/

 

 

Chia sẻ

Bình Luận