Cuộc khủng hoảng kênh đào Suez ở Cận Đông xuất hiện và phát triển như thế nào?

Sau khi lật đổ chế độ quân chủ ở Ai Cập, các nhà lãnh đạo quân sự mới ở Ai Cập bắt đầu tìm kiếm con đường hiện đại hóa quân đội Ai Cập. Việc các nước phương Tây từ chối không bán cho Ai Cập số vũ khí mà họ yêu cầu đã đẩy ban lãnh đạo nước này đi đến quyết định mua vũ khí của Liên Xô thông qua trung gian là Tiệp Khắc. Đáp trả cho hành động này, ngày 19 tháng 7 năm 1956, Mỹ tuyên bố không cung cấp cho Ai Cập khoản vay tín dụng để xây dựng đợt đầu con đập Assioul, mặc dù hiệp định vay tín dụng đã được ký vào tháng 2 năm 1956.

Ngày 26 tháng 7 năm 1956, GA. Nasser công bố sắc lệnh quốc hữu hóa “Công ty kênh đào Suez” Anh Pháp. Sắc lệnh đề cập việc bồi thường cho các chủ cổ đông, còn Chính phủ Ai Cập nhận trách nhiệm bảo đảm các điều kiện của công ước 1888 về tự do đi lại của tàu thuyền trên kênh đào. Quyết định quốc hữu hóa là hợp pháp bởi công ty đăng ký với tư cách là xí nghiệp Ai Cập, cho dù công ty là tài sản của người nước ngoài (41% cổ phần thuộc Chính phủ Anh, 52% do Pháp nắm giữ).

Phản ứng của London và Paris trước động thái của G.A. Nasser là hết sức gay gắt. Can thiệp vũ trang chống Ai Cập bắt đầu được chuẩn bị. Các giới chức cầm quyền Israel vội vã tận dụng tình huống được tạo ra này. Họ hồi hộp theo đuổi đường lối của GA. Nasser. Họ nhận thức được rằng, một trong những luận điểm cơ bản trong chương trình của chủ nghĩa dân tộc Arập là thủ tiêu Israel. Xuất phát từ nhận thức này, Chính phủ Israel đề nghị được tham gia vào cuộc can thiệp của Anh -Pháp. Sáng kiến của Israel được chấp nhận. Các thỏa thuận về hợp tác giữa Anh, Pháp và Israel chống Ai Cập được hợp thức hóa bằng một nghị định thư bí mật ba bên vào ngày 24 tháng 10 năm 1956.

Đêm 29 rạng sáng 30 tháng 10 năm 1956, quân đội Israel tấn công Ai Cập. Một vài giờ sau, tiếp đến Anh, Pháp đưa ra tối hậu thư yêu cầu Ai Cập và Israel chấm dứt các hành động quân sự và rút quân đội ra khỏi kênh đào 10 dặm. London và Paris viên lý do về việc đưa ra yêu sách này là bởi họ quan tâm đến an ninh của tuyến đường thủy quốc tế. Israel chấp nhận tối hậu thư nhưng vẫn tiếp tục tấn công, hai ngày sau đã chiếm toàn bộ bán đảo Sinai và dải Gaza. Ai Cập kiên quyết bác bỏ tối hậu thư của Anh và Pháp. Ngày 31 tháng 10, Anh và Pháp bắt đầu các hành động quân sự chống Ai Cập, dự định chiếm khu vực kênh đào Suez và giải quyết cuộc khủng hoảng kênh đào Suez một cách nhanh chóng, nhưng họ đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân đội Ai Cập và của nhân dân các thành phố, nơi bắt đầu những trận đánh dữ dội ngoài phố.

Ngày 30 tháng 10, tình hình khu vực kênh đào được đem ra thảo luận tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhưng Anh và Pháp đã dùng quyền phủ quyết, cản trở việc thông qua các chỉ thảo nghị quyết (của Mỹ và Liên Xô), trong đó lên án hành động của họ. Ngày 1 tháng 11, phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng bắt đầu, trong đó đa số phiếu đã thông qua quyết định buộc đình chiến ở khu vực kênh đào, rút hết quân đội xâm lược, tổ chức lực lượng vũ trang đặc biệt của Liên hợp quốc đưa vào Ai Cập. Mặc dù vậy, quân đội Anh Pháp vẫn tiếp tục có những hành động quân sự.

khủng hoảng kênh đào Suez
Ảnh một bài báo phương Tây thông báo về diễn biến của cuộc khủng hoảng kênh đào Suez tại Ai Cập.

Lập trường của Liên Xô và Mỹ đối với tình hình khủng hoảng kênh đào Suez là như thế nào? Cuộc khủng hoảng Suez kết thúc ra sao? Nội dung ”Học thuyết Eisenhower” là gì?

Ngày 5 tháng 11 năm 1956, Liên Xô gửi cho Anh, Pháp và Israel một bức công hàm tối hậu thư. Chính phủ Liên Xô tuyên bố quyết tâm “dùng vũ lực đập tan quân xâm lược”, nếu các hành động quân sự chống Ai Cập không được chấm dứt, đồng thời tuyên bố triệu hồi Đại sứ Liên Xô tại Israel về nước. Moscow cũng đề nghị Washington có những bước đi phối hợp nhằm chấm dứt sự xâm lược.

Chính quyền Mỹ cũng lên án hành động của Paris và London. Thứ nhất, cuộc xâm lược tay ba chống Ai Cập được chuẩn bị và thực hiện mà không thông báo cho Washington và các đồng minh khác của Pháp và Anh trong NATO. Kết quả là hai nước thành viên của liên minh tự lâm vào tình trạng chiến tranh. Về mặt lý thuyết, các nước đồng minh khác phải giúp đỡ Anh-Pháp mà không cần hỏi họ có thái độ như thế nào đối với kế hoạch tấn công Ai Cập của Anh-Pháp. Washington cho rằng, Anh và Pháp là hai nước đầu tiên vi phạm nghĩa vụ liên minh và vì vậy không coi mình phải có trách nhiệm hỗ trợ.

Thứ hai, nhìn chung, chính quyền Mỹ đánh giá một cách hoài nghi về những lối hành xử mang tính vũ lực của các đồng minh Tây Âu, coi đó là tàn dư của những tham vọng thực dân, Washington mong muốn có những đối tác thân thiện trong số“ các nước Arập, bởi tất cả các nước này đều lên án cuộc tấn công Ai Cập được tiến hành với sự tham gia của Israel. Vậy nên nói đến sự đoàn kết với Anh và Pháp, điều đó có nghĩa Mỹ sẽ đứng trong hàng ngũ kẻ thù của các nước Arập, điều mà Washington không hề mong muốn.

Thứ ba, Mỹ lo ngại rằng, cuộc xâm lược Ai Cập sẽ tạo cớ cho Liên Xô can thiệp vào các công việc của khu vực, nơi mà đến thời điểm đó sự hiện diện của Liên Xô là không đáng kể. Vì vậy, vào thời điểm đó, ở Moscow đã tiến hành những  bản thảo về việc gửi quân tình nguyện Xô Viết sang Ai Cập, một kịch bản như vậy là rất khả thi.

Mỹ cực lực phản đối những đề xuất của Moscow về những hành động đồng thuận ở Cận Đông và cảnh báo các đại diện Xô Viết về thái độ tiêu cực của mình đối với ý tưởng gửi quân tình nguyện Xô Viết đến khu vực này. Nhưng đồng thời, thông qua các kênh ngoại giao, chính quyền Mỹ cũng cho Pháp và Anh thấy rằng, Mỹ lên án hành động của họ và đe dọa sẽ ngừng cung cấp dầu mỏ (do các công ty Mỹ bảo đảm) cho họ, nếu họ không tìm cách giải quyết xung đột.

Mặc dù Mỹ từ chối không có những hành động đoàn kết với Liên Xô trong thời gian xảy ra khủng hoảng nhưng trên thực tế, hai cường quốc này vẫn hành động theo hai hướng song song với nhau.

Trước sức ép từ bên ngoài, ngày 6 tháng 10 năm 1956, Chính phủ Anh tuyên bố đồng ý thực hiện nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Pháp đã theo gương của Anh. Ngày 7 tháng 11, chiến sự ở Ai Cập chấm dứt. Cuộc xâm lược tay ba kết thúc thất bại. Tháng 12, liên quân Anh -Pháp rút khỏi Ai Cập. Tháng 3 năm 1957, quân đội Israel rút khỏi bán đảo Sinai và dải Gaza. Lực lượng Liên hợp quốc được bố trí dọc theo ranh giới ngưng chiến đã thỏa thuận và cuộc khủng hoảng kênh đào Suez được giải quyết.

Khi nhận thức được việc các đồng minh châu Âu của mình đã bị mất đi vị thế ở Cận Đông và lo ngại việc Liên Xô sẽ gia tăng ảnh hưởng tại đó, chính quyền Mỹ đã quyết định áp dụng các biện pháp củng cố vị thế của mình trong thế giới Arập. Tháng 1 năm 1957, chính quyền của Đảng Cộng hòa đã soạn thảo một chương trình đặc biệt nhằm củng cố quan hệ với các nước Arập. Chương trình mang tên “Học thuyết ‘ Eisenhower“, theo đó Mỹ cam kết sẽ giúp đỡ về kinh tế và quân sự cho các nước trong khu vực mà đang trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Tháng 3 năm 1957, Quốc hội Mỹ đã chi cho việc thực hiện chương trình này 200 triệu đôla, một khoản tiền không nhỏ vào thời điểm đó. Những khoản tiền này nhằm đối phó với sự truyền bá những tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong khu vực. “Học thuyết Eisenhower’ được đa số các nước Arập tiếp nhận một cách tiêu cực. Ai Cập và Syria là những quốc gia phản đối chương trình này đặc biệt gay gắt.

Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

Tài liệu gợi ý cho các bạn khi làm bài tiểu luận, cuối kì hoặc vấn đề liên quan đến cuộc khủng hoảng kênh đào Suez nêu trên:

Calhoun, Rick-Dale. “The Musketeer’s Cloak: Strategic Deception During the Suez Crisis of 1956.”CIA.gov. Central Intelligence Agency. Web. 14 Mar 2013.
“D-Notice.” Wordnik.com. Wordnik. Web. 14 Mar 2013.
Halle, Louis J. “The Eisenhower Approach–Mccarthy & Nasser.” New Republic 136.14 (1957): Academic Search Premier. Web. 14 Mar. 2013.
“If Nasser Wins.” New Republic 135.14 (1956): 10. Academic Search Premier. Web. 14 Mar.
Israel Invades Egypt – Britain Acts 1956. 1956. Film. 14 Mar 2013.
“Last British troops withdraw from Egypt.” Guardian. 24 Dec 1956: Web. 15 Mar. 2013.
“Nasser Reacts.” Time 68.13 (1956): 23.Academic Search Premier. Web. 14 Mar. 2013.
“Nasser’s Revenge.” Time 68.6 (1956): 21. Academic Search Premier. Web. 14 Mar. 2013.

Bài viết có thể bạn quan tâm:

  1. Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai (tháng 8.1961)
  2. Vì sao Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa can thiệp vào Campuchia?
  3. Cuộc cách mạng Hồi Giáo Iran, cuộc cách mạng thay đổi cả Trung Đông

Bình Luận