Việc phi Stalin hóa trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa có những hậu quả gì ?

Những quyết định về việc phi Stalin hóa được thông qua tại Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô và sau đó là quyết nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 30 tháng 6 năm 1956 về việc khắc phục tệ sùng bái cá nhân LV. Stalin và các hậu quả của nó đã gây tiếng vang lớn trên khắp thế giới, trước hết ngay trong lòng Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Ở Liên Xô, sự kiện này đã khiến này sinh một xu thế mới, thể hiện ở việc hủy bỏ một phần và cải tạo bộ máy của Stalin, buộc nó phải chịu sự quản lý của ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Liên Xô và bộ máy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Kèm theo đường lối này là việc nới lỏng trấn áp chính trị đối với những phần tử không cùng quan điểm. Ở Liên Xô, với sự ủng hộ của NS. Khrushchev, việc phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin đã được mở rộng. Việc phê phán này, về mặt khách quan, đã thúc đẩy gia tăng những mong muốn thay đổi về kinh tế và chính trị trong nước, thúc đẩy những cuộc tranh luận về chính trị-xã hội, làm dịu tính chất đàn áp của đường lối Xô Viết, đẩy cao tâm trạng cải cách đã được phản ảnh trên báo chí, trong bầu không khí xã hội và trong các cuộc tranh luận. Trên làn sóng phê phán chủ nghĩa Stalin ở Liên Xô đã bắt đầu thời kỳ “ấm dần“…

Những xu thế này đã ảnh hưởng đến tình hình các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Sau cái chết của I V. Stalin, nhiều nước đã bắt đầu thay đổi cơ cấu cán bộ. Trong những năm 1953-1956,  nhiều nước Đông Âu đã diễn ra sự thay đổi chính quyền, chỉ riêng ở Anbani và Trung Quốc là không diễn ra.

Sau Đại hội lần thứ XX ở Liên Xô, việc phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin đã tạo xung động cho những quá trình song song trong việc phê phán những người theo chủ nghĩa Stalin ở các nước Đông Âu. Những cuộc đấu tranh chống phe cánh theo chủ nghĩa Stalin địa phương và đường lối của họ bắt đầu chuyển thành những cuộc vận động không chấp thuận ”con đường phát triển xã hội chủ nghĩa” của các nước Đông Âu nói chung. Tâm trạng cải cách chống chuyên chế ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước hết là nhằm chống lại phe cánh Stalin địa phương, nhưng đồng thời cũng là chống Liên Xô. “Thời kỳ ấm dần” ở Liên Xô được đáp lại bằng “những cuộc khủng hoảng niềm tin” ngay tại các nước Đông Âu. Người dân địa phương và lãnh đạo các đảng cộng sản Đông Âu phần nào cũng muốn thay đổi và mong được vận dụng “phương thức tự do hóa” trong chính sách của Liên Xô nhằm nới lỏng việc kiểm soát của Moscow đối với công việc nội bộ của các quốc gia Đông Âu. Việc phi Stalin hóa được tiến hành ở Ba Lan và Hungari dưới một hình thức gay gắt nhất.

Ngay sau khi tiến hành Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô, Ban lãnh đạo Xô Viết đã đi một bước quan trọng nhằm dân chủ hóa quan hệ với các đảng công nhân và cộng sản của các nơi khác. Tháng Tư 1956, giải thể Kominform, tổ chức mà trong những năm trước đây thực sự là công cụ chuyên chế của Moscow trong phong trào công sản quốc tế, vì nó mà Liên Xô thường xuyên bị phê phán bởi chính phủ các quốc gia, các nhà lãnh đạo có xu hướng tự do của nhiều đảng cộng sản ở Tây Âu kể cả Ban lãnh đạo Nam Tư.

Tuy nhiên, hậu quả của những bước đi chống Stahn của Moscow lai gây ra phản ứng không đồng nhất trong các đảng cộng sản khác. Trước hết, những bước đi đó được đón nhận một cách lo âu và thiếu tin cây ở Trung Quốc, nơi cũng hình thành tệ sùng bái cá nhân “của mình” xung quanh nhân vật , nhà lãnh đạo cộng sản Mao Trạch Đông. Trên thực tế, Bắc Kinh không chấp nhận đường lối mới “xét lại” của NS. Khrushchev trong chính sách đối nội và có thái độ nghi ngờ đối với những ý đồ của Moscow muốn cải thiện quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây khác trên cơ sở “chung sống hòa bình”.

Anbani là nước có phản ứng phê phán gay gắt đối với đường lối của N.S. Khrushchev. Quan hệ Liên Xô-Anbani bắt đầu xấu đi sau Đại hội XX. Chế độ cầm quyền cá nhân của Enver Hoxha, một chế độ chính thống và quyền lực nhất ở Đông Âu, không muốn theo đường lối của Moscow là khắc phục tệ sùng bái cá nhân. Điều gây thêm phần bực bội đối với Tỉrana là việc Liên Xô mong muốn hòa hoãn với Nam Tư, quốc gia mà các nhà cầm quyền Anbani gần như coi là đối thủ tiềm năng chủ yếu. Từ giữa những năm 1950, Anbani bắt đầu xích lại gần Trung Quốc trên cơ sở cả hai cùng không công nhận những đổi mới trong đường lối đối nội và đối ngoại của Chính phủ Xô Viết và Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô.

Phi Stalin hóa và tệ sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông
Việc phi Stalin hóa và phê phán tệ sùng bái cá nhân của Liên Xô trong giai đoạn này vấp phải sự phản kháng gay gắt từ Bắc Kinh vì lúc này tệ sùng bái cá nhân đang được áp dụng một cách hiệu quả với hình tượng Chủ tịch Mao Trạch Đông Vĩ Đại

Giải quyết cuộc xung đột chính trị chín muồi do phi Stalin hóa ở Ba Lan bằng cách nào?

Tháng Ba 1956, Tổng thống Ba Lan kiêm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan Boleslaw Bierut đột ngột qua đời tại Vácsava. Vấn đề bầu người thay thế trong những điều kiện mới đã biến thành cuộc tranh luận trong nội bộ đảng cầm quyền về những con đường phát triển Ba Lan. Sang đến mùa hè, những làn sóng phê phán rộng khắp tệ sùng bái cá nhân Stalin ở Moscow đã tràn sang Vácsava. Làn sóng phản đối ở Ba Lan bắt đầu dâng cao về sự bất bình về tình hình trong nước mà trách nhiệm được quy cho ban lãnh đạo cũ của đảng cầm quyền.

Tháng Sáu 1956, bắt đầu những cuộc đình công và biểu tình ở Poznan vì lý do lương thấp. Đồng thời, những người Thiên chúa giáo cũng tổ chức biểu tình chống chính phủ ở Chentokhow. Như vậy, những phản kháng của công nhân hùa thêm vào những bất bình của các nhóm Thiên chúa giáo chống lại chính sách đàn áp của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan đối với Giáo hội Ba Lan.

Nhà lãnh đạo mới của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan Edward Ochab đã không có đủ quyền lực trong đảng cầm quyền và không thể ngăn chặn được cuộc đấu tranh gay gắt trong đảng. Những hy vọng ngày càng lớn được đặt vào sự trở lại của những hoạt động tích cực của W. Gomulka, người bị phế truất năm 1948 khỏi tất cả mọi cương vị bởi Ban Lãnh đạo cũ của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan, và vì thế, ông được coi là biểu tượng sống của sự đối lập với cách lãnh đạo cũ của đảng cầm quyền.

Tháng Bảy 1956, W. Gomulka được khôi phục đảng và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan trong một Hội nghị toàn thể. Tại Hội nghị này, hai ông N.A. Bulganin và G.K. Zhukov từ Moscow sang đã không được phép tham dự. Rõ ràng W. Gomulka sẽ được bầu làm nhà lãnh đạo mới của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan trong một thời gian ngắn nữa. Với tư cách là một người đã bị đàn áp trong những năm dưới chế độ Stalin, cả nhân ông dường như không phải là gương mặt được Moscow chấp nhận.

Vấn đề thành lập các cơ quan lãnh đạo mới của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan được quyết định hoãn đến Hội nghị toàn thể sau đó, dự kiến vào tháng Mười. Ngòi nổ ái quốc-quốc gia của những biến động ở Vácsava thể hiện xu hướng chống Xô Viết. Ở Moscow đã hình thành ấn tượng cho rằng, Ba Lan nghiêng về phía tiến hành đường lối chống Xô Viết. Vì thế N.S.Khrushchev quyết định phân tích tình hình tại chỗ. Tháng Mười 1956, phái đoàn Đảng Chính phủ Liên Xô do Khrushchev dẫn đầu sang Vácsava tham dự hội nghị toàn thể thường kỳ của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan. Các đơn vị quân đội đồn trú của Liên Xô trên lãnh thổ Ba Lan đã có sự di chuyển tại đó với lý do phái đoàn Xô Viết cấp cao sang Vácsava.

phi stalin hóa ảnh hưởng đến các quốc gia xã hội chủ nghĩa như thế nào.
W. Gomulka, có thể được ví như “Đặng Tiểu Bình ở Ba Lan” vì bị khai trừ và tước đoạt hết quyền lực trong đảng.

Cuộc khủng hoảng đạt tới đỉnh điểm khi phái đoàn Xô Viết đã đến Vácsava nhưng không được phép tham dự phiên họp toàn thể. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Xô Viết cũng đủ khôn khéo để không làm tình hình thêm căng thẳng. Hơn nữa, trong cuộc gặp riêng giữa N.S. Khrushchev với W. Gomulka, hai nhà lãnh đạo có thể đã lập kênh tiếp xúc riêng và hiểu biết lẫn nhau trên cơ sở cùng không chấp nhận chủ nghĩa Stalin. Nhà lãnh đạo Xô Viết đã chấp nhận việc bầu W. Gomulka là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan và nhất trí với việc gạt K.K. Rokossovski ra khỏi thành phần các cơ quan lãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan. Trong cuộc nói chuyện kéo dài, W. Gomulka đã chiếm được lòng tin của N.S. Khrushchev. Nhà lãnh đạo Ba Lan đã hứa sẽ tiếp tục đi “theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa” trong khối liên minh với Liên Xô, nhưng với điều kiện phải dành cho Ba Lan quyền được tính đến nét đặc thù về lịch sử và văn hóa dân tộc của nó. Vào thời điểm đó, công thức này đã làm Moscow hài lòng.

Sự thỏa hiệp trong vấn đề Ba Lan bao gồm việc tự do hóa đáng kể đời sống kinh tế, từ bỏ việc tập thể hóa nông nghiệp cưỡng bức, tổ chức các khu bầu cử quốc hội với nhiều tư cách ứng cử, bình thường hóa quan hệ với Giáo hội Thiên chúa giáo. Đồng thời, vai trò iãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan vẫn được giữ nguyên, mặc dù các đảng “đồng minh” đã tăng đại diện của mình trong các cơ quan quyền lực. W. Gomulka không có nghi ngờ về vị thế chính trị của Liên Xô ở Ba Lan.
Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.
Bài viết có thể bạn quan tâm

  1. Albania và Rumania, những chàng lùn dám chống lại Liên Xô
  2. Trotsky: Khi nào sự biến chất của nhà nước vô sản xuất hiện?
Chia sẻ

Bình Luận