Những luận điểm cơ bản trong chương trình ”chung sống hòa bình” là gì?

Ngày 14 tháng 2 1956, tại Moscow đã diễn ra Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Đại hội ghi nhận đường lối phi Stalin hóa Liên Xô do N.S. Khrushchev đề xuất. Điều này mở đường cho việc loại bỏ hoàn toàn những giáo điều trong đối ngoại của Moscow những năm 1940 và tạo đà triển khai những quan điểm đối ngoại đối mới của Ban lãnh đạo Xô Viết thành một hệ thống hoàn chính. Tư tường bao trùm là “chung sống hòa bình”. Truyền thống Xô Viết đã đề ra khẩu hiệu này cho tới năm 1917, khi Lênin ra Sắc lệnh về hòa bình, đồng thời nó cùng hòa nhịp với các nguyên tắc “Pancha Shila” và chương trình chính trị của Hội nghị Bandung 1955.

“Chung sống hòa bình“ những năm 1950 không phải là sự lặp lại những diễn giải của Lênin. Ở đây, có hàng loạt những điểm mới quan trọng. Thứ nhất, chương trình hành động mới trong chính sách đối ngoại của Liên Xô được ghi nhận là việc từ bỏ luận điểm của Stalin về tính tất yếu nổ ra chiến tranh thế giới mới. Ngược lại, trọng tâm vấn đề được chuyển sang khả năng có một giai đoạn phát triển quốc tế hòa bình lâu dài. Để đạt được điều này thì đặc trưng của nó phải là không có những cuộc Chiến tranh lớn giữa các nước “xã hội chủ nghĩa” và “tư bản chủ nghĩa” cũng như giữa các nước “tư bản chủ nghĩa” với nhau. Cách lý giải này là sự thành công của các nhà lý luận, vì nó “trả lại” cho các dân tộc ở Liên Xô cảm giác có được một triển vọng lịch sử xán lạn, niềm hy vọng vào những gì tốt đẹp, cho dù phần nào đó nó đã giải phóng nhận thức khỏi những nỗi sợ hãi đè nén bởi một cuộc chiến tranh kế tiếp không thể tránh khỏi đang đến gần. Cách lý giải như vậy, về phương hướng phát triển quốc tế, là tín hiệu để các đối tác nước ngoài của Liên Xô nhận biết Moscow không có những mưu đồ hiếu chiến.

Thứ hai, “chung sống hòa bình theo kiểu Khrushchev” dự báo sẽ nhấn mạnh vào việc tiếp tục công cuộc đấu tranh tư tưởng với “chủ nghĩa đế quốc”. Nhìn chung, “chung sống hòa bình” được lý giải là “hình thức đặc biệt của đấu tranh giai cấp trên quy mô toàn thế giới”, nó kết hợp hợp tác hòa bình với “chủ nghĩa đế quốc” về kinh tế, đối thoại chính trị trong các vấn để duy trì hòa bình và đồng thời, kết hợp “đấu tranh tư tưởng“ không khoan nhượng, nghĩa là bảo vệ trên toàn cầu những ưu thế của “lối sống xã hội chủ nghĩa”, những ưu thế về kinh tế xã hội và các mặt khác của “hệ thống xã hội chủ nghĩa“. Nét đặc trưng của chương trình Xô Viết này là không chấp nhận “hệ tư tưởng tư sản xa lạ” và “lối sống tư sản”. Các nước phương Tây cho rằng, chương trình này chứa đựng những mâu thuẫn: các chính trị gia phương Tây không thể hiểu được bằng cách nào mà có thể thúc đẩy “chung sống hòa bình” về kinh tế và chính trị song hành với lối tuyên truyền thù địch lẫn nhau được xây dựng trên nền tảng đối lập về ý thức hệ giữa tất cả những gì là “xã hội chủ nghĩa” với tất cả những gì là “tư sản”.

Thứ ba, “chung sống hòa bình” không loai bỏ giáo lý mácxit- lêninnít về “sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản“ và tương lai “chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới“. Cương lĩnh của Xô Viết đã giải quyết mâu thuẫn giữa tư tưởng hợp tác hòa bình với “chủ nghĩa đế quốc” và luận điểm về “tính tất yếu lịch sử” của sự diệt vong của nó thông qua định đề về sự không ngừng “gia tăng mâu thuẫn bên trong” của các xã hội tư bản chủ nghĩa, những “tật hữu cơ” của chúng. Theo lý thuyết cộng sản chủ nghĩa Xô Viết, chủ nghĩa tư bản với tư cách là một chế độ và “thế giới tư bản” với tư cách là một khu vực, quan hệ quốc tế sẽ phải biến mất vì tính tự hủy tự nhiên của chúng. Nguyên nhân của nó là những mâu thuẫn giai cấp nội tại vốn có của “hệ thống tư bản chủ nghĩa” giữa quần chúng vô sản với tầng lớp thượng lưu thống trị.

chung sống hòa bình trong chiến tranh lạnh
Khái niệm “chung sống hòa bình” những năm đầu của chiến tranh lạnh rất khác xa với định nghĩa của Lenin, có thể bị hiểu sai lầm nếu không xét tình hình Liên Xô và tình hình chính trị quốc tế lúc bấy giờ.

Về mặt này, nhiệm vụ của Liên Xô không phải là đấu tranh vũ trang với thể chế chính trị xã hội đối lập mà là thi đua hòa bình (kinh tế) với nó, thể hiện những ưu việt của lối sống Xô Viết và nhiều những ưu tiên, ưu đãi xã hội mà nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa được hưởng thụ theo tinh thần “lý tưởng cộng sản chủ nghĩa”, Moscow nhìn nhận cuộc “cạnh tranh hòa bình” giữa hai lối sống, cuộc “thi của kinh tế” chính là công thức tổng hợp tác động tương hỗ với Mỹ và các nước phương Tây khác. Từ đây đã xuất hiện cụm từ “cùng chung sống cạnh tranh” (competitive co-existence).

Trong những năm về sau, cương lĩnh “chung sống hòa bình” đã được phát triển và bổ sung bằng một loạt những luận điểm quan trọng, được tổng hợp trong cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô, thông qua tại Đại hội lần thứ XXII Đảng Cộng sản Liên Xô vào tháng Mười 1961. “Lý luận“ về đường lối đối ngoại của Liên Xô được “khái quát“ bằng hai luận điểm quan trọng.

Trước hết, đã hình thành luận điểm cho rằng, nội dung của quá trình lịch sử hiện dai những năm 1950-1960 được xác định là thời kỳ quá độ của đa số các nước và các dân tộc trên thế giới từ chủ nghĩa tư bản và những hình thái tiền tư bản trực tiếp chuyển sang chủ nghĩa xã hội. Định đề này được xây dựng trên sự kiện là có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các quốc gia độc lập mới ở châu Á và châu Phi. Do có nhiều nước trong sử các nước này tiến tới giành độc lập thông qua các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đảo chính nên Liên Xô coi họ là những nước “xã hội chủ nghĩa tiềm năng”.

Ngoài ra, trong các văn kiện đảng của Liên Xô còn phát triển luận điểm về “ba dòng thác cách mạng” của thời đại. Đó là, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc cũ, phong trào cộng sản và công nhân tại các quốc gia tư bản phát triển. “Ba dòng thác cách mạng” của thời đại đã được các đồng minh của Liên Xô công bố chính thức trên chính trường quốc tế.

Như vậy, về nguyên tắc, khái niệm đối ngoại của Liên Xô là không từ bỏ tư tưởng về “quá trình cách mạng thế giới” không ngừng tiếp diễn. Tuy nhiên, khái niệm này đã chuyển trọng tâm sang sự phát triển của quá trình này “ở những hình thức khác” mà ở đó quá trình này được phát triển trong nửa đầu thế kỷ XX, nghĩa là trong hình thức tương đối hòa bình, không nhất thiết phải là cách mạng, thay đổi.Moscow coi tính không ổn định là bộ phận không thể tách rời của chính sách quốc tế

Tuy nhiên, thái độ đối với tính không ổn định, thậm chí trong những biểu hiện cách mạng của nó như một chuẩn mực của quan hệ quốc tế, về lý thuyết, cũng không gạt bỏ việc Liên Xô mong muốn duy trì tính ổn định quốc tế trên thực tế, nếu điều đó phù hợp với lợi ích của Liên Xô. Liên Xô định hướng vào việc hiểu biết lẫn nhau với phương Tây. Những nguyên tắc cơ bản trong quan điểm của Liên Xô đối với quan hệ với Washington là tránh đụng độ trực tiếp, ngoại trừ trường hợp có sự tấn công vào lãnh thổ Liên Xô hoặc các nước trong khối Hiệp ước Vácsava; từ bỏ việc leo thang các xung đột khu vực, có khả năng mở rộng thành xung đột tổng thể với Mỹ; đối thoại về những vấn đề quốc tế cơ bản; củng cố thế lưỡng cực như một phương tiện củng cố ưu thế của Liên Xô và của Mỹ trong các hoạt động khu vực và trong chính sách quốc tế nói chung. Về mặt đường lối, Moscow đã đưa ra cách tiếp cận hai cấp độ đối với tính ổn định: mong muốn giữ ổn định trong quan hệ với phương Tây nói chung kết hợp với khả năng đối đầu gián tiếp với phương Tây trong một số những vấn đề cụ thể nào đó.

Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

Bài viết bạn có thể quan tâm

  1. Liên Xô và cuộc khủng hoảng chính trị ở Hungary tháng 10 năm 1956
  2. Nam Tư, quốc gia cộng sản độc lập với Liên Xô

Bình Luận