Dấu hiệu thua kém sức mạnh quân sự của Liên Xô

Từ nửa sau thập niên 70, giới lãnh đạo Liên Xô bắt đầu trở nên già nua về tuổi tác, suy yếu về sức khỏe và bảo thủ về tư duy. Tất cả đã tạo thành những trở ngại ngăn cản họ vạch ra một đường lối đối ngoại đủ linh hoạt đáp ứng những đổi thay mau lẹ trên trường quốc tế. Bệnh tật và cái chết diễn ra dồn dập trong khoảng thời gian ngắn của ba người đứng đầu bộ máy Đảng và Nhà nước Xô viết – Kosygin, Suslov và Brezhnev – lại được tiếp nối bằng bệnh tình nghiêm trọng và cũng cái chết mau lẹ không kém của những người kế tục – I. Andropov và K. Chernenko. Tất cả đã làm tê liệt bộ máy quyết định chính sách vốn dĩ đã rất chậm chạp của Nhà nước Xô viết. Mặt khác, có thể giới lãnh đạo Liên Xô quá tin tưởng rằng tình trạng bất đồng giữa người dân và giới cầm quyền ở các nước Tây Âu quanh chiến lược hạt nhân của Mĩ  sẽ còn kéo dài và sự chia rẽ này sẽ mang lại cho Liên Xô nhiều lợi điểm hơn là so với bất kì một hiệp ước nào về kiểm soát vũ khí, mà Chính phủ R. Reagan có thể chấp nhận. Hậu quả là những người lãnh đạo Liên Xô tuy rất ý thức về hiểm họa “tên lửa châu Âu”, đã theo đuổi một lập trường có phần vừa cứng rắn, vừa cứng nhắc trong các cuộc đàm phán về kiểm soát vũ khí.

Bên cạnh đó, phương sách mà Chính phủ Liên Xô dùng để đối phó với tổ chức Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan trong những năm đầu thập niên 80 đã không tạo được cảm tình nơi dư luận phương Tây. Vụ việc một chiến đấu cơ Liên Xô cuối tháng 8.1983 bắn hạ một phi cơ hành khách Nam Triều Tiên làm thiệt mạng 269 hành khách và phi hành đoàn đã làm xấu thêm mối quan hệ Đông – Tây vốn đã rất căng thẳng và đã gây ra một làn sóng phản đối trong dư luận thế giới không có lợi cho Liên Xô.

Trong bối cảnh trên, nhiều sáng kiến của chính phủ Liên Xô đã không mang lại kết quả như mong muốn.

Tháng 12.1982, I. Andropov đề nghị giảm số tên lửa SS-20 xuống ngang với lực lượng hạt nhân răn đe của Pháp và Anh, nhưng bị nhà cầm quyền hai nước này bác bỏ ngay vì họ coi số tên lửa trong kho hạt nhân của mình là lực lượng hoàn toàn mang tính quốc gia.

Trong tháng 3.1983, giữa lúc mọi cuộc vận động tranh cử đang diễn ra ở CHLB Đức, I. Andropov đã tìm cách tác động lên dư luận nước này bằng đề nghị kí một hiệp ước bất tương xâm giữa khối Varsava và NATO và thành lập một vùng phi hạt nhân ở châu Âu. Chẳng những không đáp ứng đề nghị của Liên Xô, ngày 23.3.1983, R. Reagan đã  quyết định đặt Liên Xô trước thách đố của một cuộc chạy đua vũ trang ở quy mô lớn chưa từng thấy: ngày 23-3-1983, Quốc hội được yêu cầu chuẩn chi 26,5 tỉ USD trong vòng 5 năm trong tổng số chi phí dự kiến 56 tỉ cho “Sáng kiến phòng thủ chiến lược” (SDI), còn được các phương tiện thông tin đại chúng gọi là “Chiến tranh giữa các vì sao”, một kế hoạch vĩ đại chế tạo các loại vũ khí mới (laser, vũ khí động năng, vũ khí chống vệ tinh nhân tạo…) nhằm phục vụ cho một hệ thống phòng thủ chiến lược đánh chặn và tiêu diệt các tên lửa đối phương ngay từ trên không. Đây là một hệ thống phòng thủ chiến lược hoàn toàn khác với hệ thống ABM đã được quy định trong SALT-I và SALT-II, mặc dù nhiều nhà khoa học ngay từ đầu đã đặt nghi vấn về tính hiệu quả của SDI.

thỏa thuận SALT 1 và 2
Một trong những thỏa thuận vĩ đại giữa Liên Xô và Mỹ chính là thỏa thuận SALT 1 và 2. Thế nhưng, thỏa thuận SALT 2 sớm bị gạt sang một bên khi Liên Xô xâm lược Afghanistan vào năm 1979.

Về phần mình, giới lãnh đạo Liên Xô coi SDI là quyết định làm mất đi thế cân bằng chiến lược, vì nó tạo ra một hệ thống phòng thủ quy mô lớn chống tên lửa với mục tiêu làm cho Liên Xô không còn khả năng trả đũa khi chiến tranh hạt nhân nổ ra. Vừa phát động một chiến dịch thông tin tuyên truyền rầm rộ nhằm đánh động dư luận phương Tây về kế hoạch chạy đụa vũ trang mới của Mĩ và NATO, họ vừa cảnh báo trực tiếp chính phủ Mĩ rằng SDI đã làm cho cuộc chạy đụa vũ trang mở rộng lên vũ trụ, và như vậy Mĩ đã dấn bước vào con đường cực kì nguy hiểm.

Thắng lợi của Liên minh Thiên chúa giáo dân chủ (CDU) và Tự do trong cuộc bầu cử ở CHLB Đức đã dẫn đến sự ra đời của chính phủ Helmut Kohn. Ngày 22.11.1983, Bundestag đã tán đồng việc bố trí tên lửa Pershing-2 và Cruise.

Lần này, Liên Xô đã đưa ra một phản ứng thật cứng rắn. Ngày 24.11.1983, I. Andropov – tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô – ra tuyên bố nêu rõ : “Một, vì Mĩ đã có hành động nhằm phá hoại khả năng đi đến các thỏa thuận mà hai bên đã có thể chấp nhận được, cho nên Liên Xô thấy không thể tiếp tục tham gia vào cuộc đàm phán đó. Hai, Liên Xô sẽ tiếp tục bố trí tên lửa tầm trung trên phần lãnh thổ châu Âu của mình. Ba, với sự đồng ý của các nước CHDC Đức và Tiệp Khắc, công tác chuẩn bị để bố trí các tên lửa cơ động chiến thuật có tầm xa hơn tại các nước đó sẽ được xúc tiến. Bốn, vì Mĩ bố trí tên lửa tại châu Âu và làm tăng thêm nguy cơ về hạt nhân chống Liên Xô, cho nên các loại vũ khí tương ứng của Liên Xô sẽ được bố trí tại các vùng biển và đại dương có liên quan.

Đòn trả đũa của R. Reagan là sắc lệnh được kí ngày 9.12 và quy định chi phí quân sự cho năm 1984 : 280 tỉ dollars, còn năm 1985 : dự kiến từ 305 đến 320 tỉ.

Suốt năm 1984, chứng kiến chiến tranh tuyên truyền ầm ĩ giữa giới lãnh đạo cao nhất hai nước Hoa Kì và Liên Xô. Tuy nhiên vào cuối năm trong quan hệ giữa hai nước đã xuất hiện một chuyển động lạc quan : ngày 17.11, không lâu sau khi R. Reagan đắc cử nhiệm kì hai, Moskva đã chính thức đề nghị bắt đầu vòng đàm phán mới về các vấn đề vũ khí hạt nhân chiến lược và vũ khí hạt nhân ở châu Âu, mà Liên Xô đã đơn phương cắt ngang trước đó một năm. Liên Xô cũng đồng ý thảo luận cả đề nghị (dù còn rất mơ hồ, theo nhận xét của Liên Xô) của Reagan về vũ khí vũ trụ. Trong hai ngày 7 và 8.1.1985 tại Geneva đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô A. Gromyko và bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì G. Shultz. Kết quả là một tuyên bố chung nêu rõ : “Hai bên đồng ý rằng chủ đề của các cuộc đàm phán là tổng thể các vấn đề liên quan đến vũ khí vũ trụ và vũ khí hạt nhân, chiến lược cũng như tầm trung, và tất cả các vấn đề đó sẽ được xem xét và giải quyết trong mối liên hệ với nhau. Mục tiêu của các cuộc đàm phán là tìm kiếm những thỏa ước hữu hiệu nhằm ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang trên vũ trụ và chấm dứt nó trên Trái Đất, hạn chế và cắt giảm vũ khí hạt nhân, củng cố thế ổn định chiến lược”.

Diễn ra từ ngày 12.3 đến ngày 23.4.1985, vòng đầu của các cuộc đàm phán đã kết thúc mà không mang lại kết quả rõ rệt.

Các cuộc thương lượng tài giảm vũ khí chiến lược (START) giữa M. Gorbachev và R. Reagan (1985 – 1988)

Trong năm 1984 và nửa đầu năm 1985, quan hệ Đông-Tây và gắn liền với nó, quan hệ Xô-Mĩ đã xuống thấp nhất kể từ thập niên 50. Dường như chẳng còn sót lại chút gì của những năm tháng hòa dịu. Tuy nhiên, tình hình không hoàn toàn bi quan. Cả hai siêu cường thực sự đều không muốn, hay đúng hơn không có khả năng kham nổi những hao phí rất nặng nề của một cuộc chạy đua vũ trang ngày càng tốn kém.

Đang trong quá trình được cấu trúc lại toàn bộ, nền kinh tế Hoa Kì cần những khoản đầu tư rất lớn. Ngoài ra, họ còn phải đối mặt với vô vàn những khó khăn khác : vừa suy thoái vừa lạm phát (stag-inflation), thiếu hụt cả trong cán cân ngân sách lẫn cán cân ngoại thương (twin deficits). Năm 1986, các con số thiếu hụt này lần lượt là 221 tỉ và 160 tỉ USD. Năng suất lao động hầu như không tăng trong thập niên 1980. Số người thuộc tầng lớp trung lưu, chỗ dựa vững chắc của chế độ, giảm dần. Người ta ước tính năm 1990, có 35 triệu (trong tổng số 248 triệu) người Mĩ không được hưởng một chế độ bảo hiểm xã hội nào.

Đã vấp phải nhiều khó khăn như vậy, nền kinh tế Hoa Kì còn phải đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt từ phía Nhật và các nước EEC. Thâm thủng trong cán cân mậu dịch giữa Mĩ và Nhật ngày càng bất lợi cho Mĩ. Để giảm bớt những khó khăn về kinh tế, R. Reagan đã phải làm một việc đi ngược lại tinh thần đường lối của ông  đối với Liên Xô : xóa  bỏ hầu hết những giới hạn về cấm vận kinh tế chống Liên Xô, mà J. Carter đã ban hành. Chẳng những thế, tháng 9.1983, Chính phủ Reagan còn kí một thương vụ bán lương thực lớn nhất từ trước đến nay cho Liên Xô. Hành động này đã gây phương hại không nhỏ đến quan hệ Mĩ – Tây Âu, vì đồng thời trong năm 1983, Washington đã buộc các nước này không được bán đường ống dẫn khí đốt được sản xuất theo công nghệ của Mĩ cho Liên Xô. Năm 1984, trước sự chống đối quyết liệt của Tây Âu, Reagan đã buộc phải xét lại lệnh cấm vừa kể. Như vậy, đường lối chống cộng cứng rắn của R. Reagan đã để lộ ra trước dư luận trong nước một  mâu thuẫn  lớn : coi Liên Xô làkẻ thù, nhưng lại bán cho Liên Xô những mặt hàng mà nước này cần. Còn nếu không coi Liên Xô là kẻ thù, hà cớ gì Mĩ phải tiêu tốn quá nhiều tiền vào cuộc chạy đua vũ trang chống Liên Xô ?

tan băng trong chiến tranh lạnh
Dưới nhiệm kì của Tổng Thống Reagan, quan hệ Xô-Mỹ đã có những bước cải thiện rất đáng kể. Và sự đối đầu là không cần thiết nữa.

Khởi sự nhiệm kì hai của mình từ tháng 1-1985, R. Reagan hiểu rằng trong bối cảnh quốc nội và quốc tế vào giữa thập niên 80, mảnh đất nuôi dưỡng đường lối chống cộng cứng rắn không còn đủ rộng như hồi thập niên 50. Tuy thắng lợi của Reagan trong cuộc bầu cử tổng thống là vẻ vang : giành được phiếu đại cử tri ở 49 trong tổng số 50 bang và 59% (tương đương 52,6 triệu) số cử tri đi bầu. Nhưng nếu so với tổng cử tri nhân dân là 174 triệu, thì Reagan thực ra chỉ được sự tín nhiệm chắc chắn của khoảng 30% số dân trưởng thành. Con số 47% cử tri không đi bầu là sự phản ứng thinh lặng đối với đường lối cầm quyền của ông trong nhiệm kì một. Con số này không thể không tác động lên Quốc hội. Cố vấn an ninh quốc gia Ma Farlane cho rằng sức mạnh quân sự của Hoa Kì có lẽ đã đạt đến cực đỉnh và chẳng lâu sau sẽ bắt đầu xuống dốc vì Quốc hội sẽ chống lại những đề nghị tăng thêm ngân sách quốc phòng. Do vậy, tốt hơn là nên tìm cách đàm phán với Liên Xô trên thế mạnh hiện nay.

Dựa gần như hoàn toàn vào sự che chở của Hoa Kì, người Nhật chi phí không quá 1% GNP cho quốc phòng. Điều này cho phép các nhà khoa học và kĩ thuật của họ dồn sức vào lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và tăng cường ngân sách cho việc nghiên cứu và đầu tư. Kết quả là Nhật từ thập niên 70 đã chiếm dần ưu thế trước Hoa Kì trong cuộc cạnh tranh giành giật thị trường thế giới. Tình hình tương tự cũng diễn ra trong quan hệ giữa Hoa Kì và Tây Âu. Trước những khó khăn về kinh tế và tài chính mà Hoa Kì phải đương đầu từ giữa thập niên 70, nhiều đại biểu Quốc hội nước này công khai bày tỏ sự bất bình trước điều mà họ gọi là “gánh nặng phòng thù châu Âu” đang đè nặng lên ngân sách Hoa Kì. Năm 1984, Nghị sĩ Sam Nunn của đảng Dân chủ bang Georgia đã đề nghị rút trong vòng 5 năm tới 9 vạn trong tổng số 36 vạn quân Mĩ đang đóng trên lãnh thổ các nước NATO Tây Âu, nếu các nước này từ chối không tăng mức chia sẻ gánh nặng với Hoa Kì. Bị đánh bại với đa số vỏn vẹn 4 phiếu (51/55), đề nghị của Sam Nunn rõ ràng có một chỗ dựa dư luận khá vững chắc.

Và từ kinh nghiệm của nhiều vị tiền nhiệm, R. Reagan hẳn đã nhận thức được rằng dù với toàn bộ kho vũ khí hạt nhân và dù được tất cả các bạn đồng minh NATO ủng hộ, tổng tốhng Mĩ cũng có lúc bất lực không thể áp đặt ý chí của Mĩ, hoặc chẳng thể tác động một cách quyết định hơn đến các sự biến Đông Au, mà mới nhất là cuộc khủng hoảng ở Ba Lan cuối năm 1981.

Về phần mình, Liên Xô cũng đang phải đối phó với những khó khăn không nhỏ. Tháng 3-1985, tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô Chernenko qua đời sau một thời gian bệnh nặng. M. Gorbachev lên thay. Từng được người đỡ đầu của mình là I. Andropov – tổng bí thư từ tháng 11-1982 đến tháng 2-1984 – giao phó trách nhiệm lãnh đạo công việc nghiên cứu nhằm đánh giá mọi mặt sinh hoạt của đất nước, tân tổng bí thư Gorbachev nhận ra rằng đất nước đang phải đối mặt với biết bao vấn đề, nếu không muốn nói là trước nguy cơ của một cuộc  khủng hoảng toàn diện. Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân ngày càng giảm : từ 7,1% trong kế hoạch 5 năm lần thứ tám (1966 – 1970) giảm xuống còn 5,1%  trong kế hoạch 5 năm lần thứ chín (1971 – 1975), 3,9% trong kế hoạch 5 năm lần thứ mười (1976 – 1980) và trong năm 1982, khi Brezhnev qua đời, giảm xuống chỉ còn 2,6%, con số thấp nhất trong thời kì sau chiến tranh. Hậu quả là mức sống của người dân vẫn thấp, thậm chí không bằng vài nước Đông Âu (CHDC Đức, Tiệp Khắc).

Cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng giữa tất cả các ngành hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ), và hậu quả là trong quan hệ thương mại với phương Tây, Liên Xô không thể vươn lên khỏi vị thế của nước cung cấp nguyên liệu và nhất là nhiên liệu (dầu lửa và khí đốt), trong lúc phải nhập khẩu lương thực (từ 30 đến 40 triệu tấn) và không ít mặt hàng kĩ thuật cao.

Từ nửa sau thập kỉ 70, trong lúc các nước phương Tây đang đẩy mạnh công cuộc cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế theo hướng phát triển chiều sâu, Liên Xô vẫn tiếp tục chú trọng phát triển theo chiều rộng. Hậu quả là sức người, sửa của cạn kiệt dần, tài nguyên bị khai thác quá mức, môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng, trình độ khoa học – kĩ thuật (ngoại trừ trong lĩnh vực quốc phòng và vũ trụ) chậm được nâng cao để rồi đến giữa thập niên 80, lạc hậu khoảng 15 năm so với các nước phát triển phương Tây.

Trong tình cảnh như trên, nền kinh tế khó có thể tiếp tục chịu đựng gánh nặng của gần 25% GNP chi cho quốc phòng(1).

Về chính trị đối nội, tiếp sau thời kì cải cách Khrushev là thời kì trì trệ của Brezhnev. Khát vọng tự do, những đòi hỏi dân chủ… từng được thỏa mãn phần nào trong 10 năm (1954 – 1964) nay trở lại bị trấn áp trong suốt 20 năm (1964 – 1984), dù không đến nỗi quá tàn bạo như thời Stalin. Diễn ra sát cạnh một Tây Âu ngày càng huởng nhiều tự do, dân chủ hơn, chuyển biến này tất không được người dân Xô viết hoan nghênh. Các hoạt động chống đối chính quyền và đàn áp diễn ra song hành đã làm xấu đi hình ảnh của chế độ Xô viết trong con mắt người dân châu Âu và thế giới. Hậu quả là trong giao tiếp với phương Tây, Liên Xô luôn ở thế bị động trong lĩnh vực nhân quyền.Và còn biết bao vấn đề khác mà chính quyền Xô viết phải đối mặt: dân tộc, văn hóa, giáo dục, tư tưởng, tệ nạn xã hội, quan liêu…

Ngay trong tháng 4.1985, M. Gorbachev loan báo quyết định tiến hành perestroika tại cuộc họp BCHTƯ đầu tiên được ông triệu tập với tư cách tổng bí thư.

(1)   Theo tờ Izvestia số ra ngày 17.6.1992, tỉ lệ này là trên 30%. Còn tờ Le Point số 983 ra ngày 20.7.1991 cho biết bộ máy quân sự – công nghiệp của Liên Xô năm 1985 làm tiêu tốn đến 20% tổng sản phẩm nội địa.
Nguồn: Tài liệu học tập nội bộ Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Bình Luận