Trong trình bày nhà nghiên cứu Ngô Vĩnh Long tại hội thảo về Biển Đông, và các vấn đề liên quan đến xung đột Trung Quốc và Mỹ ở  Gladfelter Hall, Temple University (Philadelphia) ngày 25 tháng 3 năm 2010 tôi có đưa ra một số nhận xét, trong đó có các điểm chính sau đây:

1. Đối tượng chính của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương, nói chung, và Biển Đông, nói riêng, là Hoa Kỳ. Trung Quốc đã cố tình thách thức, nếu không nói là gây hấn, để mong Mỹ, trong lúc phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, phải có thái độ nhũn nhặn với Trung Quốc nếu không nói là có thể nhượng bộ những đòi hỏi của Trung Quốc không những trong khu vực Tây Thái Bình Dương hay Biển Đông mà còn trong các lĩnh vực kinh tế tài chính. Nếu làm được việc này thì không những Trung Quốc hù dọa các nước khác trong khu vực mà còn lấy điểm với dân chúng họ bằng cách đẩy lên lòng tự hào dân tộc. Tôi có trích một vài ví dụ dẫn chứng sau đây: Cuối năm Trung Quốc đòi chia đôi Thái Bình Dương với Mỹ và để Trung Quốc kiểm soát toàn bộ Tây Thái Bình Dương đến miền tây quần đảo Hawaii.

Sau khi Mỹ từ chối thì tháng 3 năm 2009, một số tàu hải quân Trung Quốc đã vây sát đến khoảng 15 thước một tàu khảo sát của hải quân Mỹ (tên là Impeccable) tại vùng biển cách đảo Hải Nam 75 dặm. Trong tháng 6 năm 2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã va chạm với thiết bị định vị kéo theo sau của tàu khu trục Hải quân Mỹ  khi đang trên đường đến Philippines và làm đứt dây cáp kéo thiết bị đó. Phản ứng của Mỹ rất ôn hòa: chính phủ Mỹ gửi công hàm phản đối lên chính phủ Trung Quốc sau sự kiện tàu Impeccable, và tuyên bố vụ va chạm của tàu ngầm Trung Quốc chắc là vì vô ý. Được thể, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bất chấp luật pháp quốc tế, công bố sau sự kiện tàu Impeccable là các tàu Mỹ cần phải xin phép trước khi đi vào khu đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc lấn tới bằng cách cho hải quân của họ đụng chìm các tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động trong vùng biển gần đảo Hoàng Sa và bắt nhốt các người này để đòi tiền chuộc.

2. Riêng tại khu vực Biển Đông thì đối tượng chính của Trung Quốc là Việt Nam vì Việt Nam là nước “núi liền núi sông liền sông” với Trung Quốc, có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong vùng, và có tranh chấp nhiều nhất với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có thể làm áp lực để cho chính phủ Việt Nam tỏ thái độ nhân nhượng, dưới biển cũng như trên đất liền, thì Trung Quốc có thể ít nhất là trung lập hóa được các nước khác vì họ không có lợi ích nhiều như Việt Nam trong việc tranh chấp với Trung Quốc. Không ai dại gì đưa đầu ra nếu nước bị mất mát nhiều nhất không dám tranh đấu cho quyền lợi của chính mình. Do đó Trung Quốc đã rất khéo léo trong việc hù dọa và chỉ chủ yếu đánh bắt ngư dân Việt Nam. Nhưng việc chính phủ Việt Nam `không có thái độ cương quyết đối với Trung Quốc để bảo vệ người dân của mình và việc các nước chung quanh cũng đã không phản đối ra mặt sẽ càng ngày càng khuyến khích Trung Quốc lấn sâu vào Biển Đông

Trung Quốc độc chiếm biển Đông.
“Việt Nam hết sức quan ngại và phản đối…”, là một câu nói được lập trình sẵn của các phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Hành động không cứng rắn của Việt Nam càng tạo điều kiện cho Trung Quốc ngày càng lấn tới trên biển Đông.

3. Vấn đề ở Biển Đông không chỉ là việc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn là an ninh cho toàn khu vực cũng như cho việc thông thương của thế giới. Nếu Việt Nam cứ tiếp tục múa võ mồm (tôi dùng từ “shadow boxing”) với Trung Quốc trong việc tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không nối kết việc tranh chấp này với an ninh chung, dưới biển cũng như trên đất liền, thì các nước khác có thể áp dụng chính sách “bánh còng” (donut strategy) để mặc cho Việt Nam đương đầu với Trung Quốc trong vấn để tranh chấp hai quần đảo nằm phía trong lỗ của bánh còng trong khi họ cùng nhau bảo vệ an ninh hàng hải vì hàng không trên các tuyến giao thông bên ngoài hai quần đảo đó. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ bị cô lập và sẽ bị thiệt thòi lớn. Việt Nam nên tiếp tục nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa cho thật sâu và thật kỹ để chứng minh cho thế giới là mình có cơ sở như thế nào, ở chỗ nào, hầu vận động được sự ủng hộ của thế giới. Nhưng vấn đề quan trọng là gắn liền việc tranh chấp với việc đấu tranh cho an ninh của toàn khu vực, không chỉ an ninh truyền thông mà còn là “an ninh con người”. Một ví dụ là tác hại của các đập được xây dựng trên sông Mekong đối với các nước hạ nguồn mà trong đó Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nhiều nhất.

4. Trong việc vận động sự ủng hộ của thế giới, từ sau 1975 Việt Nam chủ yếu dựa vào ngoại giao giữa chính phủ với chính phủ (governmen-to-government diplomacy) mà hầu như quên mất ngoại giao nhân dân (people to-people diplomacy.) Việt Nam đã thắng Mỹ trong chiến tranh một phần nào là đã dựa vào ngoại giao nhân dân. Riêng tại Mỹ đã có bao nhiêu lượt triệu người biểu tình đòi Washington ngưng chiến tranh ở Việt Nam và hàng chục nghìn người khác thường vận động hành lang & khắp mọi nơi. Nay, nếu chính phủ Mỹ thật tình muốn ủng hộ Việt Nam trong vấn đề tranh chấp tại Biển Đông đến mấy đi nữa mà không có sự vận động và thúc đẩy của quần chúng Mỹ cũng như của các nước khác thì chưa chắc gì chính phủ Mỹ có thể thi hành được chính sách của họ một cách lâu dài. Chính phủ Mỹ cần sự trợ giúp của nhân dân Việt Nam và các nước khác trong khu vực để có thể triển khai các chính sách của họ ở Đông Nam Á. Ngoại giao nhân dân là để nhân dân tự làm: tự do thông tin, tự do nghiên cứu, tự do tranh luận.
Còn tiếp…

Nguồn: Trung Quốc nhìn từ nhiều phía, NXB Tri Thức.

Bài viết có thể bạn quan tâm

  1. Việt Nam đã từng siết mạng, chặn facebook và cấm nói về Trường Sa
  2. Việt Nam và sự trắng trợn xâm lấn của Trung Quốc trên biển Đông
  3. Sức mạnh quân sự của Liên Xô thua kém Mỹ từ khi nào?

 

Chia sẻ

Bình Luận