Bối cảnh Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản phân tranh sau khi Nhật đầu hàng

Sau chiến tranh, mối bận tâm lớn nhất là thu hút sự chú ý của người dân Trung Quốc không phải là tập trung sức lực tái thiết đất nước, như phần lớn các nước lâm chiến, mà tìm cách triệt tiêu mối đe dọa tiềm tàng của một cuộc nội chiến có thể bùng phát giữa hai lực lượng chính trị và quân sự trong nước: Quốc dân đảng (QDĐ) và đảng Cộng sản (ĐCS).

Mặt trận thống nhất kháng Nhật – còn được gọi là liên minh Quốc – Cộng lần thứ hai – ra đời năm 1937 là kết quả mang tính gượng ép do sự bó buộc của tình thế: cả QDĐ và ĐCS, sau một thời gian dài lao vào cuộc nội chiến khốc liệt giành quyền lực, cuối cùng đều nhận ra rằng cả hai cùng phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật – kẻ thù ngoại bang lớn mạnh hơn nhiều lần. Bị ép phải liên minh, cả Tưởng Giới Thạch – người lãnh đạo QDĐ và Mao Trạch Đông – người lãnh đạo ĐCS đã ra sức bảo toàn và phát triển lực lượng của mình không phải để phục vụ mục tiêu chính: đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật, mà là để dành cho cuộc nội chiến trong tương lai. Tưởng Giới Thạch thường xuyên sử dụng 40 vạn quân tinh nhuệ bao vây căn cứ Thiểm – Cam – Ninh và đã tổ chức một số cuộc đột kích vào các căn cứ hay phục kích đội hình của các đạo quân cộng sản. Về phần mình, Mao Trạch Đông cũng hành xử tương tự khi ngay trong năm 1937 đã xác định “chính sách cố định của chúng ta là dành 70% lực lượng để phát triển, 20% để đối phó với QDĐ và 10% để chống Nhật” .

Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, vùng chiếm đóng của Nhật trở thành một “khoảng trống quyền lực” mà cả hai phe Quốc – Cộng đều muốn lấp đầy. Giữa QDĐ và ĐCS đã diễn ra cuộc đua tranh ráo riết dưới danh nghĩa tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, nhưng thực chất là để giành quyền kiểm soát các phần lãnh thổ bị Nhật chiếm đóng. Không quân Mĩ giúp quân đội của Chính phủ QDĐ nhanh chóng chuyển từ miền Tây về Nam Kinh, Thượng Hải và một số đô thị khác. Mĩ cũng yêu cầu quân Nhật chỉ đầu hàng quân QDĐ. Nhờ đó, Chính phủ QDĐ đã kiểm soát được các vùng Hoa Nam, Hoa Trung và Hoa Đông. Còn tại Hoa Bắc, ĐCS đã kiểm soát được phần lớn đất đai, nhưng quân đội QDĐ được không quân Mĩ trợ giúp đã chiếm giữ Bắc Bình ([1]), cùng một số đô thị khác và các đường giao thông quan trọng. Khoảng 10 vạn quân Mĩ cùng được đổ  bộ vào vùng này và chiếm đóng các đô thị lớn như Thanh Đảo, Thiên Tân, Bắc Bình… để giải giáp quân Nhật và cũng để làm hậu thuẫn cho QDĐ.

đảng cộng sản trung quốc
Chiến tranh với Nhật (1937-1945) đã làm cho lực lượng Quốc Dân Đảng mất đi một lực lượng lớn quân tinh nhuệ.

Riêng ở Mãn Châu (Đông Bắc Trung Quốc) tình hình diễn ra rất phức tạp. Nơi đây hoàn toàn thuộc quyền chiếm đóng của hơn 1 triệu quân Liên Xô nhằm tước vũ khí 60 vạn binh lính Nhật thuộc đạo quân Quan Đông cùng mấy chục vạn quân của Chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc. Hồng quân đã giúp ĐCS Trung Quốc tiến quân vào Mãn Châu và thành lập ở đây những “Chính phủ nhân dân” địa phương để kiểm soát vùng này. Trước tình hình đó, Chính phủ QDĐ được Mĩ khuyến khích cũng cho quân tiến vào Mãn Châu. Mặc dù Liên Xô không cho họ sử dụng cảng Đại Liên và đường sắt Trường Xuân, quân QDĐ cũng tìm được cách tiến vào Nam Mãn Châu mà không bị ngăn cản. Lúc này, chính Hồng quân trở thành lực lượng ngăn cách sự đụng độ giữa quân của ĐCS (ở  miền Bắc) và quân QDĐ (ở miền Nam Mãn Châu).

Tuy vậy, ở nhiều nơi khác trong nước đã diễn ra không ít cuộc xung đột vũ trang giữa hai phe Quốc – Cộng.

Nguy cơ bùng nổ nội chiến đã khiến dư luận trong nước rất lo lắng. Sau 8 năm chiến tranh ròng rã với bao thiệt hại về người và của, nhân dân rất tha thiết với hoà bình và nhiều người mong mỏi rằng sự tham gia của ĐCS vào chính phủ liên hiệp sẽ có thể giúp tránh được nội chiến. Thêm vào đó, triển vọng lập chính phủ liên hiệp có một sức hấp dẫn rộng rãi vì nền thống trị của QDĐ ngày càng bị coi là bất tài, áp bức và thối nát. Cuối cùng, không ít người hi vọng rằng với việc đưa thêm phía thứ ba vào chính phủ liên hiệp, chế độ đảng trị của QDĐ sẽ có thể chấm dứt mà không phải thay bằng chế độ đảng trị của ĐCS.

Không chỉ người dân Trung Quốc, mà cả hai cường quốc thắng trận và có ảnh hưởng lớn nhất trong vùng  thời hậu chiến là Hoa Kì và Liên Xô đều không muốn nhìn thấy một Trung Quốc bị giằng xé. Do vậy, chính sách của Hoa Kì đối với Trung Quốc trong thời gian đầu sau chiến tranh về cơ bản là không thay đổi.

Lập trường của Liên Xô

Về phần mình, tuy tham gia chiến tranh vào thời điểm cuối – trong khoảng 7 ngày (từ ngày 9.8 đến 15.8.1945) – và với những tổn thất không lớn, Liên Xô đã kịp giành lại tất cả những quyền lợi mà chế độ sa hoàng đã để lọt vào tay Nhật sau thảm hại trong cuộc chiến 1994 – 1905. Chính phủ Moskva còn biết cách đảm bảo những quyền lợi ưu đãi được hưởng trên đất Trung Hoa bằng “Hiệp ước Hữu nghị và Đồng minh tương trợ Xô – Trung” kí với chính phủ Tưởng Giới Thạch ngày 14.8.1945.

Hiệp ước khẳng  định hai bên tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đây chính là sự thừa nhận chính thức của Liên Xô đối với chủ quyền hợp pháp của Chính phủ QDĐ, và sự xác định lập trường hữu nghị của Liên Xô trong quan hệ với Trung Hoa Dân quốc. Kèm theo đó, một loạt hiệp định Xô-Trung đã được kí kết:

–  Hiệp định về Liên minh Xô-Trung chống Nhật: khẳng định sự liên minh giữa hai nước trong cuộc chiến tranh chống Nhật (khi ấy, Liên Xô đã từ bỏ Hiệp định trung lập với Nhật).

– Hiệp định về tuyến đường sắt Trường Xuân (nối Mãn Châu với Lữ Thuận): tuyến đường sắt này thuộc chủ quyền Trung Quốc, do một công ti Xô-Trung quản lí và chủ tịch công ti là người Trung Quốc.

– Hai hiệp định về các hải cảng Lữ Thuận và Đại Liên: Lữ Thuận được dùng làm quân cảng chung của hai nước Xô-Trung. Trung Quốc phụ trách phần quản lí dân sự, Liên Xô phụ trách việc phòng thủ quân sự. Đại Liên là cảng tự do đối với mọi nước, riêng Liên Xô được miễn thuế quan và được tham gia quản lí cảng này.

– Hiệp định về vấn đề quân đội Liên Xô chiếm đóng Mãn Châu (tức 3 tỉnh Đông Bắc Trung Quốc). Kèm theo Hiệp định, hai bên trao đổi công hàm khẳng định Mãn Châu và Tân Cương thuộc chủ quyền Trung Quốc, còn Ngoại Mông (tức nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ) sẽ được Trung Quốc thừa nhận độc lập nếu nhân dân ở đây bày tỏ nguyện vọng độc lập qua một cuộc trưng cầu dân ý.

Các hiệp định trên là sự cụ thể hóa và chính thức xác nhận từ phía Trung Quốc đối với những quyền lợi mà Liên Xô được hưởng theo các quyết nghị ở Yalta. Chúng còn giúp tháo gỡ một số vướng mắc, tạo điều kiện để thiết lập mối quan hệ hữu nghị  giữa hai nước sau chiến tranh.

Trong lúc đó, những quyền lợi mà Liên Xô có thể nhận được từ một Trung Quốc dưới chính thể cộng sản vẫn chưa được định hình. Đã  vậy, quan hệ giữa Moskva và ban lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Mao Trạch Đông lại không hứa hẹn một triển vọng tốt đẹp.

Trong khoảng thời gian từ cuối thập niên 1920 cho đến đầu thập niên 1930, đảng Cộng sản Trung Quốc đã trải qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cả về đường lối lãnh đạo cách mạng và nhân sự trong ban lãnh đạo, sau thất bại của một loạt cuộc khởi nghĩa. Kết thúc cuộc khủng hoảng này là sự ra đời một ban lãnh đạo mới được gọi là “quốc tế chủ nghĩa” do Vương Minh – một người được đào tạo ở Liên Xô và có những mối quan hệ chặt chẽ với Quốc tế Cộng sản (Komintern) – cầm đầu.

đảng cộng sản trung quốc
Đối với Stalin, Mao là một kẻ không đáng tin tưởng, không phải là một người cộng sản chân chính.

Để củng cố vị thế vừa giành được, Mao Trạch Đông đã tìm cách cô lập các đối thủ “quốc tế chủ nghĩa” và triệt tiêu ảnh hưởng của họ. Hậu quả là phe cánh của Mao ngày càng vững, nhưng quan hệ giữa họ với Moskva thì xấu đi. Trong con mắt Stalin, họ vừa không phải là những người cộng sản đúng nghĩa (nghĩa là không đáng tin cậy trong quan hệ ngoại giao), vừa không hội đủ lực lượng để lật đổ Chính phủ QDĐ. Đây là lí do chính để Stalin cuối cùng đồng ý thừa nhận địa vị hợp pháp của Chính phủ Tưởng Giới Thạch vào thời điểm sát ngày kết thúc cuộc chiến Thái Bình Dương. Đồng thời, trong các cuộc tiếp xúc mật với ban lãnh đạo ĐCS, đại diện Liên Xô xác định rõ lập trường của Moskva là sẽ hoàn thành các nghĩa vụ đồng minh, đồng thời tuân thủ đường lối không can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc và ngăn ngừa nội chiến([2]).

Edward Kardelj, một nhà lãnh đạo Nam Tư thuật lại rằng năm 1948, Stalin đã tuyên bố với ông về chính sách của Liên Xô đối với những người cộng sản Trung Quốc: “Sau chiến tranh, chúng tôi có mời các đồng chí Trung Quốc đến Moskva để bàn về tình hình Trung Quốc. Chúng tôi đã nói thẳng với họ rằng chúng tôi xem cuộc nổi dậy ở Trung Quốc là không có tiền đồ, rằng họ nên gia nhập chính phủ Tưởng Giới Thạch và giải tán quân đội của họ… Những đồng chí Trung Quốc đã đồng ý với các quan điểm của các đồng chí xôviết, nhưng khi trở về Trung Quốc, họ đã hành động hoàn toàn khác hẳn. Họ đã tập hợp lực lượng, tổ chức quân đội và bây giờ, như chúng ta thấy, họ đang đánh quân đội Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi công nhận rằng trong trường hợp của Trung Quốc, chúng tôi đã sai lầm” .

Trong hoàn cảnh quốc tế và quốc nội như trên, những người lãnh đạo QDĐ và ĐCS, qua trung gian của đại sứ Mĩ Patrick Hurley, đều không thể chối từ ngồi vào bàn đàm phán. Khởi sự ngày 29.8 ở Trùng Khánh, cuộc đàm phán đã kết thúc bằng Hiệp định Song Thập kí ngày 10.10.1945, trong đó hai bên cam kết “quyết tâm tránh nội chiến”. Văn kiện còn xác lập các nguyên tắc liên quan đến nỗ lực tái thiết đất nước trong thời bình và công cuộc xây dựng một chế độ dân chủ đa đảng. Tuy nhiên, kết quả cuộc đàm phán xem ra không vững chắc, vì hai vấn đề then chốt lúc này là lực lượng vũ trang và tính chất của chính quyền ở các vùng do ĐCS kiểm soát vẫn chưa được giải quyết. Biểu hiện rõ rệt nhất của tình trạng bấp bênh trong quan hệ Quốc – Cộng là trong và sau thời gian diễn ra đàm phán, những cuộc đụng độ vũ trang giữa hai bên vẫn diễn ra.

Cảm thấy bất lực trong nỗ lực hoà giải hai phe Quốc – Cộng, đại sứ P. Hurley xin từ chức. Ngày 27.11.1945, tổng thống Truman đã quyết định cử tướng George C. Marshall, nguyên tham mưu trưởng lục quân, làm đại diện riêng của ông ở Trung Quốc với cấp hàm đại sứ.

Sứ mệnh của George C. Marshall

Chính sách hoà giải hai phe Quốc Dân – Cộng Sản của Mĩ

Trong chỉ thị giao cho Marshall ngày 15.12 và trong thông điệp của tổng thống Mĩ về chính sách đối với Trung Quốc được công bố ngày hôm sau – 16.12, Truman nói rằng một “nước Trung Hoa mạnh, thống nhất và dân chủ” là điều cực kì quan trọng đối với hoà bình thế giới, rằng “sẽ là quyền lợi thiết thân nhất của Hoa Kì và của toàn thể Liên Hiệp Quốc, nếu nhân dân Trung Quốc không bỏ qua một cơ hội nào nhằm điều giải các bất đồng nội bộ của họ bằng những phương pháp đàm phán hoà bình”. Chính phủ Hoa Kì chủ trương công việc của Trung Quốc phải do người Trung Quốc tự giải quyết và cam kết rằng Mĩ sẽ không can thiệp quân sự để tác động đến cuộc nội chiến ở xứ này, rằng sự hiện diện của quân Mĩ ở Bắc Trung Quốc là nhằm giải giáp và di tản số quân Nhật đầu hàng còn ở trên đất Trung Quốc. Tổng thống Truman thúc giục triệu tập hội nghị toàn quốc các đảng phái chính ở Trung Quốc để bàn giải giáp cho những vấn đề của Trung Quốc nhằm chấm dứt tình trạng phân ly không chỉ ở trong nước, mà còn mang lại sự thống nhất cho đất nước theo những điều kiện cho phép mọi chính đảng lớn có được quyền đại diện thích đáng trong chính phủ. Điều này tất có nghĩa là phải thay đổi chế độ “đỡ đầu chính trị”([3]) mà QDĐ đang theo đuổi và mở rộng cơ sở của chính phủ, triệu tập Quốc hội, xóa bỏ chế độ cai trị độc đảng (của QDĐ), thành lập chế độ đảng phái đối lập. Truman nhấn mạnh rằng cần đạt được sự thỏa thuận về việc thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc dưới một bộ chỉ huy thống nhất. Thông điệp của Truman nêu rõ rằng “Chính phủ Trung Hoa dân quốc hiện nay là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc”, do vậy: “Sự tồn tại của các quân đội tự trị, chẳng hạn như quân đội cộng sản, là không thích hợp cho sự thống nhất của Trung Quốc về chính trị”.

Như vậy, rõ ràng là tổng thống Truman đã quyết định ủng hộ Tưởng Giới Thạch trong nỗ lực thiết lập một chính phủ liên hợp với những người cộng sản, nhưng sự ủng hộ này có đi kèm với một số điều kiện nhất định. Bên cạnh đó, Truman còn chỉ ra rằng những chi tiết cần thiết cho tiến trình thống nhất chính trị ở Trung Quốc phải do chính người Trung Quốc soạn ra và không đồng tình với bất kì ý đồ nào can thiệp vào chuyện này. Ông tuyên bố rằng tất cả mọi chính đảng và phe nhóm ở Trung Quốc phải có một trách nhiệm rõ ràng đối với Liên Hiệp Quốc trong nỗ lực thủ tiêu xung đột vũ trang trong nước, vốn là một nguy hại cho hoà bình và ổn định thế giới.

Kết thúc bản thông điệp của mình, Truman hứa sẽ giúp Trung Quốc khôi phục đất nước, cải thiện nền kinh tế công nghiệp và nông nghiệp, xây dựng một lực lượng quân sự “đủ sức đảm trách các trách nhiệm trong và ngoài nước của Trung Quốc vì sự nghiệp gìn giữ hoà bình và trật tự”.

đảng cộng sản trung quốc
Trung Quốc muốn được Mỹ hỗ trợ toàn lực buộc phải có sự thay đổi về thể chế. Thế nhưng, trong giai đoạn này, nước Mỹ chủ trương hòa giải nhiều hơn là hỗ trợ tổng lực QDĐ để đi chiến tranh tổng lực với ĐCS Trung Quốc.

Trên đây là phần nội dung được thông báo cho dư luận rộng rãi. Riêng đối với Marshall, tổng thống yêu cầu ông này sử dụng ảnh hưởng của Hoa Kì sao cho “việc thống nhất Trung Quốc bằng những phương pháp hoà bình, dân chủ” phải đạt được càng nhanh càng tốt và đồng thời có tác động đến việc chấm dứt những xung  đột, đặc biệt là ở Hoa Bắc. Để hoàn thành sứ mệnh này, Marshall được phép nói thẳng với Tưởng Giới Thạch và những người lãnh đạo Trung Quốc khác “bằng  tất cả sự thẳng thắn” và nêu rõ rằng “một Trung Quốc chia rẻ và bị nội chiến tàn phá không phải là chốn thích hợp để nhận sự trợ giúp kinh tế từ phía Mĩ bằng các hình thức tín dụng và viện trợ  kỹ thuật cũng như viện trợ quân sự” . Còn bộ trưởng Ngoại giao Byrnes trong chỉ thị gửi Marshall đã nêu một cách cụ thể rằng theo Hoa Kì, “Chính phủ của tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch tạo cơ sở thỏa đáng nhất cho một nền dân chủ phát triển”, nhưng chính phủ này phải được “mở rộng để bao gồm đại diện của những nhóm đông đảo và được tổ chức tốt, nhưng hiện nay không có một tiếng nói nào trong chính quyền Trung Quốc”. Trong số những nhóm đó, Byrnes liệt kê cả nhóm mà ông gọi là “những người tự coi là cộng sản”. Bằng những lời lẽ này, giới lãnh đạo Hoa Kì rõ ràng là muốn Tưởng Giới Thạch chia sẻ quyền hành với những người cộng sản.

Lập trường nêu trên của chính phủ Truman về cơ bản đã nhận được sự tán đồng của hội nghị bộ trưởng ngoại giao ba nước Liên Xô, Hoa Kì và Anh diễn ra trong tháng 12.1945 ở Moskva. Trước hết, các bộ trưởng đã thỏa thuận cần thống nhất và dân chủ hóa Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của chính phủ QDĐ; thứ hai thu hút rộng rãi các thành phần dân chủ vào tất cả các cơ quan của Chính phủ Quốc dân; thứ ba, đình chỉ nội chiến. Cả ba bộ trưởng “tái xác nhận sự trung thành với chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc”. Bên cạnh đó, hai bộ trưởng Hoa Kì và Liên Xô đạt được thỏa thuận về “sự cần thiết rút quân lính xôviết và Mĩ khỏi Trung Quốc trong thời hạn ngắn nhất; đồng thời hoàn thành các cam kết và trách nhiệm của họ”.

Hội nghị Hiệp thương chính trị (tháng 1.1946)

Sức ép quốc tế và phản ứng của dư luận trong nước đã mang lại thành công ban đầu cho đại sứ Marshall. Ngày 10.1.1946, hai bên Quốc – Cộng kí Hiệp định đình chiến được đảm bảo bằng các đội giám sát ba bên (Mĩ – QDĐ – ĐCS).

Từ ngày 10 đến ngày 31.1.1946, Hội nghị Hiệp thương chính trị được tổ chức tại Trùng Khánh với sự tham gia của QDĐ, ĐCS, các đảng phái chính trị khác và những nhân sĩ không đảng phái. Hội nghị đã thông qua 5 nghị quyết:

– Về tổ chức chính phủ: Cải tổ Chính phủ QDĐ bằng cách mở rộng cho các đảng phái khác tham gia theo tương quan lực lượng, đảm bảo quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch.

– Về xây dựng lại đất nước trong hòa bình.

– Về quân sự: Quy định tỉ lệ lực lượng giữa quân đội Chính phủ QDĐ và lực lượng vũ trang của ĐCS là 5/1; quy định “các nguyên tắc tổ chức lại quân đội và thu nạp lực lượng vũ trang cộng sản vào quân đội Quốc dân”.

– Về Quốc hội: Khẳng định nguyên tắc bầu cử tự do dân chủ, xác định địa vị hợp pháp của mọi chính đảng trong Quốc hội.

– Về Hiến pháp: Sửa đổi bản Hiến pháp 1936 theo hướng chuyển từ chế độ độc tài đảng trị sang một chế độ dân chủ đích thực.

Kết quả tốt đẹp của Hội nghị đã tạo ra khả năng chấm dứt nội chiến, ổn định tình hình để xây dựng lại đất nước theo con đường dân chủ hóa. Tướng Marshall coi đó là “niềm hi vọng lớn nhất của Trung Quốc.

Đáng tiếc là các nghị quyết của Hội nghị đã không trở thành hiện thực,  và “niềm hi vọng lớn nhất” ấy đã bị bỏ lỡ.

Nỗ lực hoà giải của Mĩ bị thất bại

Trong khi các cuộc thương lượng giữa hai bên Quốc – Cộng để thực hiện các nghị quyết của Hội nghị Hiệp thương chính trị bị dẫm chân tại chỗ, QDĐ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động quân sự, ồ ạt tăng quân tới Mãn Châu. Cuối tháng 2, Chính phủ QDĐ đã kí với Pháp một hiệp định nhường quyền đóng quân ở Bắc Đông Dương cho nước này, đổi lấy việc Pháp trao trả các tô giới  và những đặc quyền khác của họ ở Trung Quốc, để rút 20 vạn quân QDĐ đang trú đóng ở Bắc Đông Dương về nước và đưa lên mặt trận phía Bắc chống cộng sản. Phía Mĩ vẫn phản đối chính sách dùng vũ lực của QDĐ và cố gắng hòa giải hai phe Quốc – Cộng, nhưng lại viện trợ rất nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh cho Chính phủ Trùng Khánh.

Trước tình hình đó, ĐCS đã coi Hội nghị Hiệp thương chính trị là một trò lừa bịp của QDĐ nhằm che đậy âm mưu gây nội chiến, tố cáo sự thiên vi của Mĩ đối với QDĐ; đồng thời ra sức củng cố lực lượng của mình và trông cậy vào sự giúp đỡ của Liên Xô.

Liên Xô vẫn mong hòa giải hai phe Quốc – Cộng, không muốn dính líu vào nội chiến Trung Quốc, nhưng cũng không thể không trợ giúp các đồng chí Trung Quốc của mình trước tình thế nguy hiểm. Cuối tháng 3, sau khi quân Mĩ rút khỏi Trung Quốc, Liên Xô tuyên bố rút quân khỏi Mãn Châu và việc này đã được hoàn tất vào ngày 23.4.1946. Trước khi người lính Hồng quân cuối cùng rời khỏi Mãn Châu, Bộ Tư lệnh Xô viết đã trao lại cho ĐCS Trung Quốc toàn bộ số vũ khí và quân trang tước đoạt của Nhật (gồm có 3.700 khẩu pháo và súng cối, 30 vạn súng trường, 14 vạn súng máy, 600 xe tăng,  861 máy bay…), thêm một phần đáng kể vũ khí của Liên Xô; đồng thời trao lại 75.000 quân của Chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc trước đây. Số quân này sau đó được ĐCS Trung Quốc thu nhận vào quân đội của mình. Sự giúp đỡ to lớn này đã làm cho lực lượng vũ trang của ĐCS lớn mạnh vượt bậc để có thể đương đầu với QDĐ.

Cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa hai phe đã diễn ra tại Trường Xuân (1 trong 3 thành phố lớn nhất Mãn Châu) trong tháng 4. Khi Hồng quân vừa rút khỏi, các đơn vị quân đội của đảng Cộng sản liền đánh chiếm thành phố này. QDĐ tố cáo ĐCS vi phạm Hiệp định ngừng bắn, đồng thời phản công chiếm lại thành phố và đẩy lùi đối phương trên nhiều hướng khác. Theo yêu cầu của ĐCS, tướng Marshall lại dàn xếp một cuộc ngừng bắn mới, để hai bên quay trở lại bàn đàm phán từ ngày 7.6.1946. Trong lần đàm phán này, Marshall đã không thể thuyết phục nổi hai bên nhân nhượng lẫn nhau. QDĐ cho rằng lúc này họ đủ mạnh để đánh bại  ĐCS trong một thời gian ngắn mà không cần quá lệ thuộc vào chính sách của Mĩ. ĐCS thì không còn chút ảo tưởng nào để thực hiện chính sách liên hiệp với QDĐ.

Ngày 1.7.1946, với việc quân đội QDĐ tấn công vào các căn cứ địa của ĐCS ở phía bắc sông Trường Giang, cuộc nội chiến được coi là chính thức bắt đầu. Hoa Kì vội vã cử tiến sĩ John Leighton Stuart sang Trung Quốc để giúp tướng Marshall giải quyết vấn đề. Stuart đề nghị dứt khoát chọn 1 trong 2 giải pháp: hoặc là Hoa Kì giúp đỡ tối đa cho Tưởng Giới Thạch đi đến thắng lợi cuối cùng, hoặc là hoàn toàn rút khỏi Trung Quốc mà không can dự vào cuộc nội chiến ở đây. Tuy nhiên, Chính phủ Mĩ bác bỏ đề nghị này và chọn giải pháp tiếp tục hòa giải. Để gây áp lực buộc Tưởng Giới Thạch phải trở lại đàm phán, Mĩ quyết định cấm vận vũ khí với Chính phủ QDĐ (từ 10.8). Marshall nói thẳng với Tưởng rằng: “Chính phủ (tức Chính phủ Quốc dân đảng) sẽ mất nhiều, mà không được lợi lộc bao nhiêu từ các cuộc xung đột hiện nay. Chúng có thể còn đưa đến sự sụp đổ của Chính phủ…” . Tổng thống Truman cũng cảnh báo với Tưởng rằng: nếu không có một tiến bộ thật sự trong nỗ lực giải quyết hòa bình các vấn đề nội bộ Trung Quốc, nước Mĩ buộc phải xem xét lại lập trường của mình trong quan hệ với Chính phủ QDĐ.

Khi ấy, QDĐ đang thắng thế trên chiến trường, họ không quan tâm nhiều đến những lời cảnh báo từ phía Mĩ. Riêng Tưởng Giới Thạch còn tin chắc rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Mĩ  cũng không thể bỏ rơi Chính phủ QDĐ. Về phía mình, ĐCS tin rằng Mĩ đang thi hành một chính sách hai mặt: mặt chính là giúp QDĐ gây nội chiến, mặt phụ là thuyết phục QDĐ tìm giải pháp hòa bình. Vì vậy, ĐCS không đặt nhiều hi vọng vào giải pháp hòa bình. Do lập trường hai bên Quốc – Cộng như vậy sứ mệnh, của Mĩ trong việc hòa giải để chấm dứt nội chiến đã thất bại hoàn toàn.

Ngày 6.1.1947, tướng Marshall được triệu hồi về nước để đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì. Sau lưng ông là Trung Hoa đang ngập chìm trong khói lửa nội chiến.

Như vậy, mọi nỗ lực trong nước và quốc tế nhằm ngăn chặn sự bùng nổ cuộc nội chiến giữa chính phủ QDĐ với ĐCS ở Trung Quốc đều thất bại. Nội chiến bùng nổ là do mâu thuẫn giữa QDĐ với ĐCS đã trở nên không thể điều hoà được.

Nội chiến Quốc Dân Đảng-  Đảng Cộng Sản

Trong giai đoạn đầu (7.1946 – 6.1947), QDĐ chủ động tấn công và giành được nhiều thắng lợi. Họ đã tràn vào căn cứ địa Thiểm-Cam-Ninh và chiếm thủ phủ Diên An của ĐCS cùng hàng trăm thành thị khác. Nhưng ĐCS áp dụng chiến thuật “đổi thành thị lấy sinh lực” đã tiêu diệt nhiều sinh lực quân QDĐ và rút lui để bảo toàn lực lượng của mình. Quân đội QDĐ bị suy yếu, hậu phương của nó lại bị lay chuyển vì khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đồng thời phong trào đấu tranh của nông dân, công nhân và học sinh, sinh viên đòi “chống đói và chống chiến tranh” ngày một lên cao. Tưởng Giới Thạch buộc phải xin Mĩ tăng cường viện trợ; nhưng chính phủ Hoa Kì cũng chỉ dành cho ông ta một sự trợ giúp có giới hạn: bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí (26.5), quyết định viện trợ cho QDĐ 27,7 triệu dollars (11.1947) và cử một nhóm sĩ quan Mĩ qua Đài Loan giúp việc huấn luyện tân binh cho quân đội QDĐ.

Từ tháng 6.1947 trở về sau, quyền chủ động trên chiến trường hoàn toàn thuộc về ĐCS. Tháng 9.1947, ĐCS cho tiến hành một cuộc cải cách ruộng đất rộng lớn trong những vùng được giải phóng khỏi chính quyền QDĐ. Toàn bộ ruộng đất của địa chủ và một phần của phú nông bị tịch thu để chia cho nông dân theo khẩu hiệu “Người cày có ruộng”. Cuộc cải cách này đã làm cho đa số nông dân hướng về ĐCS; nhờ đó lực lượng vũ trang của Đảng (giờ đây mang tên Quân Giải phóng Nhân dân) trở nên lớn mạnh vượt bậc.

Cuối năm 1948, Đảng Cộng sản đã mở 4 chiến dịch lớn đánh bại quân chủ lực Quốc dân đảng: chiến dịch Tế Nam (16 – 24.9.1948) tiêu diệt 10 vạn quân, chiến dịch Liêu – Thẩm (12.9 – 2.11) tiêu diệt 47 vạn, chiến dịch Hoài – Hải (7.11.1948 – 10.1.1949) loại khỏi vòng chiến 55 vạn và chiến dịch Bình – Tân (5.12.1948 – 22.1.1949) loại khỏi vòng chiến 25 vạn quân Quốc dân đảng. Sau 4 chiến dịch này, các lực lượng tinh nhuệ nhất của Chính phủ QDĐ đã bị đập tan, ĐCS giành quyền kiểm soát toàn bộ vùng lãnh thổ phía bắc sông Trường Giang, uy hiếp nghiêm trọng thủ đô Nam Kinh của QDĐ.

 

Sự suy sụp của Chính phủ QDĐ ở Trung Quốc đã buộc Hoa Kì phải thông qua Đạo luật Viện trợ Trung Quốc (4.1948), để cung cấp 463 triệu dollars viện trợ của Chính phủ này. Nhưng đại sứ Mĩ tại Trung Quốc – Stuart – vẫn cho rằng nếu Hoa Kì “không có sự can thiệp vũ trang trên quy mô lớn” thì thảm họa quân sự sẽ tiếp tục diễn ra đối với Chính phủ QDĐ. Tháng 11.1948, Tưởng Giới Thạch đã gửi thư cho tổng thống Truman để yêu cầu Hoa Kì tuyên bố cứng rắn ủng hộ sự nghiệp của QDĐ, cử các sĩ quan Mĩ sang trực tiếp chỉ huy các đơn vị quân đội QDĐ dưới danh nghĩa cố vấn quân sự, bổ nhiệm một tướng lãnh cao cấp cầm đầu một phái đoàn đặc biệt của Hoa Kì ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, giữ vững lập trường không can thiệp về quân sự vào Trung Quốc, tổng thống Truman đã bác bỏ các yêu cầu của Tưởng Giới Thạch, cho rút nhóm sĩ quan Mĩ ở Đài Loan về nước.

Không còn con đường nào khác, QDĐ phải tìm cách đàm phán với ĐCS. Tháng 1.1949, thư đề nghị đàm phán được gửi đi. ĐCS chấp nhận đàm phán với điều kiện: trừng trị bọn tội phạm chiến tranh (đứng đầu Tưởng Giới Thạch, Tống Tử Văn, Trần Lập Phu…), huỷ bỏ Hiến pháp và pháp luật của QDĐ, thành lập Chính phủ mới thay cho Chính phủ QDĐ… Thế tức là buộc QĐĐ phải đầu hàng hoàn toàn.

Ngày 21.1, Tưởng Giới Thạch từ chức tổng thống, đưa Lý Tôn Nhân lên thay với hi vọng thuyết phục ĐCS giảm nhẹ các điều kiện đàm phán. Không thành công, Chính phủ QDĐ rời Nam Kinh đi Quảng Châu lánh nạn.

Tháng 4.1949, hai đạo quân của ĐCS do Lưu Bá Thừa và Trần Nghị chỉ huy đã vượt sông Trường Giang, đánh chiếm Nam Kinh, Thượng Hải rồi truy quét tàn quân QDĐ. Ngày 30.6, trong bài diễn văn nhan đề “Bàn về chuyên chính dân chủ nhân dân”, Mao Trạch Đông tuyên bố chính sách đối ngoại trong tương lai của chế độ mới ở Trung Quốc là “Nhất biên đảo” (nghĩa là “ngả hẳn về một bên”). Ông nói: “Muốn đi đến thắng lợi và củng cố thắng lợi thì nhất thiết phải ngả hẳn về một phía (…), người Trung Quốc không ngả theo phía đế quốc chủ nghĩa thì phải ngả theo phía xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối không có cách nào khác. Lừng khừng là không được; không có con đường thứ ba”. Từ đó, ông khẳng định nước Trung Hoa mới do  Đảng Cộng sản lãnh đạo sẽ “liên hiệp với Liên Xô, với các nước dân chủ nhân dân, liên hiệp với giai cấp vô sản và đông đảo nhân dân các nước khác, lập thành một  mặt trận thống nhất quốc tế”.

Chính phủ QDĐ bỏ Quảng Châu chạy về Trùng Khánh, rồi di tản sang Đài Loan. Cho đến cuối năm 1949, hầu hết lục địa Trung Hoa (trừ Tây Tạng) đã thuộc quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản([4]).

Ngày 21.9.1949, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân đã khai mạc tại Bắc Kinh. Hội nghị đã thông qua Hiến pháp tạm thời của nước Trung Hoa mới, khẳng định “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nước Dân chủ mới, tức là Dân chủ Nhân dân”. Hội nghị đã bầu Mao Trạch Đông, Chủ tịch ĐCS Trung Quốc, làm chủ tịch Hội đồng Chính phủ Nhân dân Trung ương và cử Chu Ân Lai, ủy viên bộ Chính trị ĐCS, làm thủ tướng Quốc Vụ Viện (tức Nội các) kiêm bộ trưởng Ngoại giao. Bắc Bình được chọn làm thủ đô mới và đổi tên thành Bắc Kinh.

Ngày 1.10.1949, tại thủ đô Bắc Kinh, Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa). Ngày 2.10, Liên Xô tuyên bố thừa nhận nước CHND Trung Hoa. Tiếp theo đó, các nước CHND Bulgaria, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumania, Hungary, Albania, Mông Cổ, CHDCND Triều Tiên,… lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Trung Hoa mới. Như vậy, CHND Trung Hoa đã trở thành thành viên của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Chính phủ Trung Hoa Dân quốc của QDĐ cùng mấy chục vạn quân còn lại chạy ra Đài Loan, lại đưa  Tưởng Giới Thạch lên làm tổng thống tại đây để tiếp tục đối đầu với CHND Trung Hoa ở lục địa. Thế là thêm một điểm nóng của cuộc Chiến tranh lạnh đã hình thành ở eo biển Đài Loan. Sự thành lập nước CHND Trung Hoa là một bước tiến lớn của hệ thống XHCN và phong trào cộng sản quốc tế ở châu Á và trên thế giới.

Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ, khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Ghi chú:

([1])  Sau khi chiếm được Bắc Kinh (1928) trong cuộc chiến tranh Bắc Phạt, Tưởng Giới Thạch đã đổi tên thành phố này thành Bắc Bình. Năm 1949, sau khi chiến thắng lực lượng QDĐ, Chính phủ Mao Trạch Đông đã lấy lại tên Bắc Kinh.

([2])  Một tác giả người Mĩ còn khẳng định: “Stalin báo cho đảng Cộng sản Trung Quốc biết rằng cuộc nổi dậy của họ “không có tiền đồ và họ nên gia nhập chính phủ Tưởng Giới Thạch và giải tán quân đội của họ”.

([3])  Chương trình hành động có tính chất cương lĩnh của Tôn Dật Tiên dự trù một thời kì ”đỡ đầu chính trị” dưới sự lãnh đạo của QDĐ như là một sự chuẩn bị cần thiết cho việc thiết lập một chính phủ lập hiến ở Trung Quốc. Như vậy, QDĐ có trách nhiệm chấm dứt thể chế độc đảng và triệu tập Quốc hội để thông qua hiến pháp và thành lập một chính phủ mới.

([4])  Năm 1951, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã tiến vào Tây Tạng, xác lập chủ quyền của CHND Trung Hoa tại vùng lãnh thổ này.

Chia sẻ

Bình Luận