Hoàn cảnh ra đời của Tổ chức Liên Hiệp Quốc

Trong lúc chiến tranh đang tiếp diễn, vấn đề thành lập một tổ chức quốc tế mới có tên gọi Tổ chức Liên Hiệp Quốc, thay cho Hội Quốc Liên, đã được đặt ra trong Hiến chương Đại Tây Dương (8.1941), tại các Hội nghị thượng đỉnh Teheran (12.1943) và Yalta (2.1945). Dự thảo Hiến chương Liên Hiệp Quốc được soạn thảo tại Hội nghị Dumbarton Oaks (9-10.1944) và được thông qua ở Hội nghị San Francisco diễn ra từ ngày 24.4 đến ngày 26.6.1945 với sự tham gia của đại diện 50 quốc gia.

Ngày 24.10.1945, sau khi bản Hiến chương được đa số các quốc gia tham dự Hội nghị San Francisco phê chuẩn, Tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã chính thức ra đời.

Các mục tiêu và nguyên tắc của tổ chức Liên Hiệp Quốc


 ─ Ba mục tiêu: Giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới ; thiết lập các quan hệ hữu nghị giữa các nước trên nền tảng bình đẳng giữa các dân tộc và quyền tự quyết của họ; giải quyết các vấn đề quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tri thức và nhân đạo bằng cách phát triển sự tôn trọng nhân quyền.

Năm nguyên tắc cơ bản: Các thành viên LHQ đều bình đẳng về chủ quyền ; giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế ; cấm có các hành động đe doạ hay sử dụng bạo lực; LHQ có thể thông qua các biện pháp chống các nước không phải thành viên nếu họ đe dọa hòa bình ; LHQ không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia thành viên, trừ phi nước này đe dọa hòa bình ([1]).

lực lượng gìn giữ hòa bình
Kể từ sau Thế Chiến II, Liên Hiệp Quốc đã đóng vai trò khá lớn trong việc gìn giữ hòa bình thế giới.

Bộ máy tổ chức

Đại hội đồng (ĐHĐ) gồm tất cả các nước thành viên. Mỗi thành viên được bỏ một phiếu duy nhất. Hằng năm, ĐHĐ sẽ nhóm họp ở trụ sở chính đặt tại New York trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12. Có thể  có những hội nghị bất thường về các chủ đề riêng biệt như trật tự kinh tế thế giới mới, tài giảm binh bị… ĐHĐ sử dụng 6 ngôn ngữ: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Ảrập. ĐHĐ hoạt động bằng “các khuyến cáo” được thông qua với đa số quá bán (riêng những vấn đề quan trọng như: duy trì hòa bình, kết nạp hội viên mới… sẽ cần 2/3 ). ĐHĐ cũng bỏ phiếu về ngân sách LHQ.

─ Hội đồng Bảo An (HĐBA) là cơ quan quan trọng nhất của LHQ trong sứ mệnh bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới. HĐBA gồm 11 thành viên, trong đó 5 là thành viên thường trực (Hoa Kì, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Quốc) và 6 thành viên không thường trực có nhiệm kì hai năm và được bầu theo chế độ luân phiên 3 thành viên mới mỗi năm([2]).

Đối với những vấn đề ít quan trọng, HĐBA chỉ sử dụng quyền khuyến cáo giống như ĐHĐ. Nhưng về những vấn đề quan trọng, HĐBA có quyền đưa ra những biện pháp trừng phạt về ngoại giao, kinh tế hay quân sự. Một khi quyết định đã được HĐBA thông qua, tất cả các nước thành viên buộc phải thi hành theo nguyên tắc của Hiến chương LHQ.

HĐBA biểu quyết theo đa số 7/11 (từ năm 1966 là 9/15). Đối với những vấn đề  quan trọng, phải hội đủ 5 phiếu của các thành viên thường trực. Điều này có nghĩa là mỗi thành viên thường trực đều có quyền phủ quyết. Tuy nhiên, nếu là đương sự trong một vụ tranh chấp, thì nước thành viên thường trực đó không có quyền biểu quyết khi vấn đề được mang ra phán xét, nhưng được biểu quyết về biện pháp giải quyết vụ việc. Việc kết nạp hội viên mới của LHQ phải thông qua HĐBA, phải được sự nhất trí của 5 thành viên thường trực, trước khi được trình ra trước ĐHĐ.

─ Văn phòng thư kí là cơ quan thường trực điều hành của LHQ. Các viên chức làm việc ở đây, về nguyên tắc, được xem là độc lập với quốc gia gốc của họ. Cầm đầu cơ quan này là tổng thư kí được ĐHĐ bầu ra theo đề nghị của HĐBA. Tổng thư kí không được chọn trong số công dân 5 nước hội viên thường trực, có nhiệm kì 5 năm và có thể tái cử. Tổng thư kí  có nhiệm vụ điều hành mọi công việc hành chính, có quyền lưu ý HĐBA về các vấn đề đe dọa hoà bình và an ninh quan trọng, soạn thảo báo cáo hàng năm ([3]).

─ Hội đồng kinh tế – xã hội có nhiệm vụ xúc tiến sự hợp tác quốc tế về các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục… nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc. Hội đồng gồm 18 nước thành viên được ĐHĐ bầu ra với nhiệm kì 3 năm theo chế độ luân phiên 6 thành viên mới mỗi năm.

Hội đồng bao gồm các ủy ban  và ủy hội sau: Ủy ban Nhân quyền, Ủy hội Dân số, Ủy hội Kinh tế châu Âu, Ủy hội Kinh tế châu Á và Viễn Đông ; Ủy hội Kinh tế Mĩ latinh, Quỹ Cứu trợ Nhi đồng LHQ (UNICEF)…

Bên cạnh đó có các cơ quan chuyên môn quốc tế liên kết với LHQ thông qua Hội đồng Kinh tế – Xã hội: Ngân hàng quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Lương Nông quốc tế (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ (UNESCO)…

— Tòa án quốc tế đặt trụ sở tại La Haye (Hà Lan) là cơ quan tư pháp của LHQ có nhiệm vụ xét xử các vụ tranh chấp giữa các quốc gia.

Tòa án quốc tế gồm 15 thẩm phán độc lập, được các nước đề cử, được HĐBA và ĐHĐ tuyển chọn theo đa số quá bán tổng số các nước thành viên với nhiệm kì 9 năm. Cứ ba năm bầu lại 5 người (có thể tái cử). Tòa án đưa ra những bản án mang tính tư vấn, nhưng cũng có thể mang tính chất cưỡng chế, nếu các quốc gia thành viên đã chấp thuận thẩm quyền của nó.

Sự thành lập Tổ chức LHQ là một bước tiến của nhân loại trong sự nghiệp bảo vệ hoà bình và an ninh thế giới, và phát triển sự hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, trong một thế giới mà trình độ phát triển và sức mạnh của các quốc gia còn không đồng đều, nguyên tắc “chủ quyền bình đẳng” giữa các thành viên LHQ chỉ có ý nghĩa tương đối. Các cường quốc luôn tạo được ảnh hưởng lớn ở LHQ, nơi ưu thế vượt trội thuộc về hai siêu cường Hoa Kì và Liên Xô. Sự đối đầu giữa hai siêu cường sẽ biến LHQ trở thành vũ đài đấu tranh giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa trong gần nửa thế kỉ.

Cuộc chiến tranh xâm lược Iraq của Mỹ
Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là đối với sự can thiệp của Mỹ vào Iraq, Liên Hiệp Quốc hành động rất yếu ớt và kém hiệu quả.

Chú thích

([1]) Từ năm 1992, LHQ bắt đầu vận dụng “quyền can thiệp nhân đạo”.

([2])  Từ năm 1966, số thành viên không thường trực được nâng lên 10,  và cứ mỗi năm bầu lại phân nửa số này.

([3])  Từ khi được thành lập đến nay, LHQ đã trải qua các đời tổng thư kí sau: Trygve Lie người Na Uy (1945 – 1952), Dag Hammarsjoeld người Thụy Điển( 1953 – 1961), Sithu U’Thant người Miến Điện (1961 – 1971), Kurt Waldheim người Áo (1971 – 1981), Javier Perez de Cuellar người Peru (1982 – 1991), Butros-Butros Ghali người Ai Cập (1992 – 1996), Kofi Annan người Ghana (1996 – 2006), Ban Ki-Moon người Hàn Quốc (2007 -…).
Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Bình Luận