Trước thế kỉ XX. phần lớn các nước trên thế giới, cả trong lý thuyết lẫn thực hành, đều công nhận tính ưu việt của những hệ thống phi dân chủ. Cho đến mãi thời gian gần đây, tuyệt đại đa số nhân loại …có những lúc là tất cả -đã phải khuất phục trước những kẻ cai trị phi dân chủ. Và những người đứng đầu các chế độ phi dân chủ thường tìm cách biện minh cho sự cai trị của họ bằng cách viện dẫn lời tuyên bố có từ thời thượng cổ và vẫn tồn tại dai dẳng rằng phần đông dân chúng không đủ năng lực tham gia vào việc quản lí nhà nước. Luận cứ này cho rằng đa số sẽ được“ lợi nếu dành việc quản trị phức tạp cho những người khôn ngoan hơn mình … nhiều nhất cũng chỉ là mấy người, mà có thể chỉ là một người. Trên thực thể, luận cứ này không thể thuyết phục được tất cả mọi người, vì vậy mà ở đâu lí lẽ rút lui thì ở đó cưỡng bức sẽ lên ngôi. Đa phần dân chúng chẳng bao giờ công khai chấp nhận để cho những kẻ tự phong là cấp trên cai trị hay quản trị mình,họ bị buộc phải làm như thế. Thậm chí hiện nay, quan điểm và thực hành cũ rích đó cũng chưa chết hẳn. Cuộc tranh luận về việc “một người, một ít người, hay nhiều người” được quản lí, quản lí nhà nước, dưới dạng này hay dạng khác, vẫn đang đồng hành cùng chúng ta.

Tại sao lại cần chế độ dân chủ?

Chế độ dân chủ tạo ra những hệ quả đáng mong muốn:

  1. Thoát được nạn bạo quyền
  2. Có được những quyền căn bản cho con người
  3. Đạt được quyền tự do nói chung
  4. Có được quyền tự quyết

5 Con người được tự chủ về mặt đạo đức

6 Con người được khuyến khích phát triển

  1. Có sự bảo vệ những quyền cá nhân căn bản
  2.  Có quyền bình đẳng về chính trị

Ngoài ra, chế độ dân chủ hiện đại còn tạo ra:

9 Cổ xúy xây dựng và củng cố hoà bình

  1. Thịnh Vượng

Trước một câu chuyện lịch sử dài dằng dặc như vậy, tại sao chúng ta lại tin rằng dân chủ là phương pháp quản trị, quản lí quốc gia tốt hơn là bất cứ hiện pháp thay thế phi dân chủ nào khác? Xin được liệt kê các lí do.

So với bất kì biện pháp quản trị thay thế nào khác, dân chủ có ít nhất mười lợi điểm (

l . Dân chủ giúp ta ngăn chặn sự cai trị của những người chuyên chế ác độc và xấu xa.

Có lẽ vấn đề cơ bản và dai dẳng nhất trong chính trị là tránh chế độ chuyên chế (bạo quyền). Suốt chiều dài lịch sử thành văn, trong đó có cả thời của chính chúng ta, các lãnh tụ thường bị chúng vì cuồng, chứng hoang tưởng, quyền lợi cả nhân, ý thức hệ, chủ nghĩa dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, niềm tin vào ưu thế bẩm sinh, hoặc thuần tuý là cảm xúc và xung động dẫn dắt, họ đã lợi dụng những khả năng đặc biệt của nhà nước để cưỡng ép và trấn áp người khác bằng bạo lực nhằm phục vụ cho những mục đích riêng của họ. Số người chết do chế độ độc tài gây ra có thể sánh ngang với số người chết do dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh.

Xin xem xét vài thí dụ từ thế kỉ XX. Dưới triều đại Joseph Stalin ở Liên Xô (1929-1953), nhiều triệu người bị bỏ tù vì lí do chính trị, mà lại thường là do chứng hoang tưởng của Stalin về những âm mưu chống lại ông ta. Ước tính có khoảng hai mươi triệu người đã chết trong những trại cải tạo lao động, bị hành hình vì những lí do chính trị, chết vì nạn đói (1932-1933), trong thời gian Stalin buộc nông dân phải vào những nông trại do nhà nước quản lí. Mặc dù khoảng hai mươi triệu nạn nhân khác của chế độ Stalin có thể đã thoát chết, nhưng họ đã phải chịu nhiều khổ đau cùng cực“. Hay Adolf Hitler, nhà độc tài của nước Đức Quốc xã (1933 ~ 1945). Không kể hàng chục triệu người, cả quân sự lẫn dân sự, bị chết và bị thương trong Thế chiến II; Hitler phải chịu trách nhiệm trực tiếp về cái chết của sáu triệu người Do Thái trong các trại tập trung cũng như cái chết của vô số những người có quan điểm đối lập với Hitler, người Ba Lan. người Gypsy, người đồng tính, và những nhóm sắc tộc khác mà ông ta muốn xóa sổ. Dưới chính quyền chuyên chế của Pol Pot ở Campuchia (1975-1979), Khmer Đỏ đã giết một phân tư dân số Cambodia: có thế nói đây là vụ diệt chúng do những người cùng sắc tộc gây ra với chính đồng bảo của mình. Nỗi sợ của Pol Pot trước những tầng lớp có học lớn đến nổi họ gần như bị xóa sổ hoàn toàn: đeo kính hay bàn tay không có chai đồng nghĩa với án tử hình.

các trại tập trung Gulag ở Liên Xô
Dưới chế độ toàn trị Xô Viết, những tư tưởng, lời nói, hành động có tính dân chủ được xem là chống lại “chính quyền nhân dân” và buộc phải vào Gulag.

Chắc chắn là lịch sử của chính quyền nhân dân không phải không có những vết nhơ của nó. Tương tư như tất cả các chính quyền khác, đôi khi chính quyền nhân dân cũng có những hành động bất công hoặc độc ác đối với những người sống bên ngoài biên giới của họ, những người sống trong các nước khác-người nước ngoài, dân thuộc địa v.v. Về mặt này, chính quyền nhân dân đối xử với người bên ngoài không tệ hơn chính quyền phi dân chủ, và thường thì họ khá hơn. Trong một số trường hợp, thí dụ như ở Ấn Độ, chính quyền thực dân đã có đóng góp một cách tình cờ hoặc có chủ ý vào việc tạo ra niềm tin vào chế độ dân chủ và cả sự hình thành các thiết chế dân chủ. Nhưng chúng ta không được bỏ qua những bất công mà những nước dân chủ thường làm với những người bên ngoài, bởi vì hành động như vậy là họ đi ngược lại nguyên lí đạo đức cơ bản, tức là nguyên lí biện minh cho quyền bình đẳng về mặt chính trị giữa các công dân trong chế độ dân chủ. Một đạo luật phổ quát về nhân quyền, được thực thì một cách hiệu quả trên màn thế giới, có thể ià giải pháp duy nhất đối với mâu thuẫn này.

Thách thức trực tiếp hơn đối với những ý tưởng và thực hành dân chủ là những tổn hại do chính quyền nhân dân gây ra cho những người sống dưới quyền tài phán của nó và buộc phải tuân thủ luật pháp của nhà nước nhưng không được quyền tham gia vào quá trình quản lí quốc gia. Đấy là những người bị trị chứ không phải ià những người cai trị. May thay, giải pháp cho vấn đề này đã trở nên khá rõ ràng, nhưng không phải lúc nào cũng để thực hiện: mở rộng quyền dân chủ đến thành viên của những nhóm bị đẩy ra bên lề. Trên thực tế, giải pháp này đã được áp dụng một cách rộng rãi trong thế kỉ XIX và đầu thể kỉ XX. Đấy là khi những hạn chế trước đây về quyền phổ thông đầu phiếu bị bãi bỏ và quyền phổ thông đầu phiếu  cho người trưởng thành đã trở thành một tiêu chuẩn của chính quyền dân chủ”.

đảng cộng sản việt nam
Một chế độ toàn trị dễ dẫn đến sự lạm quyền, các quyền con người bị tước đoạt một cách dã man. Các giá trị đạo đức bị bại hoại, đời sống tinh thần và vật chất của người dân luôn phụ thuộc vào một nhóm người hoặc chỉ một người.

Một chính quyền dân chủ có vẻ phức tạp bởi vì hầu như tất cả các điều luật và chính sách công, dù là do đa số dân chủ hay một thiểu số đầu sỏ hoặc một nhà độc tài tốt bụng thông qua, thì bao giờ nó cũng làm cho một số người nào đó bị thiệt hại. Nói một cách đơn giản, vấn để không phải là liệu chính phủ có thể thiết kế tất cả các đạo luật mà không cái nào, không bao giờ, gây tổn thất cho quyền lợi của bất cứ công dân nào. Không, không một chính phủ nào, thậm chí ngay cả một chính phủ dân chủ, dám đồng ý với một lời tuyên bố như thể. Vấn đề là liệu trong dài hạn, tiến trình dân chủ có gây ra ít thiệt hại đối với những quyền cơ bản và lợi ích của các công dân hơn những lựa chọn thay thế phi dân chủ khác hay không mà thôi. Chỉ cần các chính phủ dân chủ ngăn chặn không để các chế độ chuyên chế, chuyên ngược đãi người dân, không để họ lên nắm được quyền cai trị, thì họ đã đáp ứng được đòi hỏi này tốt hơn là các chính phủ dân chủ rồi.

Nhưng chính vì các chế độ dân chủ chỉ không bạo ngược: bằng các chế độ phi dân chủ thôi nên công dân của các nước dân chủ cũng khó mà chủ quan được. Chúng ta không thể biện hộ cho những tội ác nhỏ bởi vì có những kẻ phạm những tội ác lớn hơn. Ngay cả khi đã tuân thủ những thủ tục mang tính dân chủ nhưng đất nước dân chủ vẫn gây ra bất công thì kết quả vẫn là. bất công. Sức mạnh của đa số không thể khiến đa số thành có lí được.

Mặc dù vậy, còn có những ií do khác nữa để ta có thể tin rằng các chế độ dân chủ dường như để trở thành công chính hơn và có thái độ tôn trọng những quyền lợi căn bản của con người hơn là những chế độ phi dân chủ.

(Còn tiếp)

Ghi chú:

  1. Những số liệu về thời kì khủng bố của Stalin, các bạn có thể tham khảo đọc thêm tác phẩm The Great Terror, Stalin’s Purge of the Thirties của Robert Conquest (New York: Macmilan: 1968) và tài liệu của nhà sử học nổi tiếng người Nga, Roy Medvedev.
  2. Mỹ là một trong những ngoại lệ về nền dân chủ thế kỉ XX, khi người da đen các bang miền nam không được quyền phổ thông đầu phiếu cho đến khi thông qua Civil Rights Acts vào năm 1964-1965.
  3. Về quan điểm “sức mạnh của đa số không thể khiến đa số thành có lí được.”, bạn đọc có thể tìm hiểu kĩ hơn cuốn Tyranny and Legitimacy: A Critique of Political Theories của Jam S.Fishkin.

Bài viết bạn có thể quan tâm

Nền dân chủ Ấn Độ, một nền dân chủ không bền vững

Max Weber: sự thờ ơ chính trị là cái chết của nền dân chủ

Tương lai nào cho Việt Nam: tiến tới dân chủ hay vẫn giữ độc tài?

Chia sẻ

Bình Luận