Sự lớn mạnh của cộng sản dưới thời Tổng Thống Carter

Hội nghị Helsinki ở cấp thượng đỉnh diễn ra ngay trong thời điểm được xem là tệ hại nhất đối với phương Tây, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kì, đối thủ nặng cân nhất của Liên Xô, đang sa vào một cuộc khủng hoảng chính trị và ngoại giao rất trầm trọng. Chưa lúc nào trong lịch sử  lập quốc kéo dài 200 năm của mình, hệ thống chính trị của Hoa Kì lại bị đặt trước những thử thách lớn lao như vậy: cả tổng thống và phó tổng thống của cùng một nhiệm kì đã lần lượt bị buộc phải từ chức. Uy tín của Mĩ trên trường quốc tế xuống rất thấp. Thất bại ở Đông Dương còn làm phát sinh điều được gọi là “hội chứng Việt Nam” đã ám ảnh các nhà hoạch định chính sách đối ngoại Mĩ và các vị tổng thống tiếp theo của nước Mỹ, trong đó có tổng thống Carter trong gần một thập niên.

Tất cả các nước phương Tây đang sa vào một cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính nghiêm trọng nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Kỉ nguyên “ba mươi năm vinh quang” kết thúc và nhường chỗ cho giai đoạn phát triển đầy khó khăn với bao nhiêu vấn đề phát sinh : giá nguyên, nhiên liệu tăng vọt, nạn thất nghiệp lan tràn, suy thoái kinh tế diễn ra song song với lạm phát để tạo thành cuộc khủng hoảng kép. Các nước phương Tây buộc phải tiến hành một cuộc cải tổ mang tính cách mạng: cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế nước mình với những khoản đầu tư và chi phí khổng lồ. Trong lúc chờ đợi thành quả của cuộc cải cách này, người dân phương Tây đã phải vật lộn khá vất vả với cuộc sống hàng ngày.

Trong lúc đó, tình hình ở hệ thống xã hội chủ nghĩa dường như diễn ra khác hẳn: thắng lợi của cách mạng Việt Nam và các nước Đông Dương mở màn cho thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của hệ thống này kể từ thập niên 50. Nhiều nước thuộc thế giới thứ ba sau khi hoàn thành xong cuộc cách mạng dân tộc (hoặc dân chủ, hoặc cả hai cùng lúc) đã tuyên bố đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa – Ethiopia, Angola, Mozambique, Nam Yemen, Nicaragua, Afghanistan… Không còn kiêng dè sự can thiệp của người Mĩ, giới lãnh đạo các nước này rất sẵn sàng tiếp nhận sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn nhân lực từ Liên Xô và các nước Đồng minh xã hội chủ nghĩa.

Chính trong bối cảnh trên, nước Mĩ đã thay đổi người lãnh đạo đảng Cộng hòa, sau 8 năm cầm quyền với một đường lối đối ngoại thực tiễn (realpolitik), mà hiện thân là Henry Kissinger, cố vấn an ninh và bộ trưởng Ngoại giao, đã nhường chỗ cho đảng Dân chủ: tân tổng thống Jimmy Carter là một người có đường lối đối ngoại mang nặng tính lí tưởng.

sự bành trướng của cộng sản năm 1975
Với sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, Mỹ đã thất bại trong việc ngăn cản làn sóng cộng sản tại khu vực Đông Nam Á.

Quan điểm đối ngoại của Carter

Chỉ trích các vị tiền nhiệm R. Nixon và G. Ford rằng đã can thiệp quá mức và không để ý đến tính đạo đức trong đường lối chống Cộng của mình, Carter cho rằng Việt Nam đã dạy người Mĩ rằng “chúng ta không thể và sẽ không tìm cách can thiệp quân sự vào công việc nội bộ của những quốc gia khác, trừ phi chính đất nước chúng ta bị đe dọa”. Có nghĩa là Mĩ không nên can dự vào Chile, nếu đơn giản chỉ vì Chính phủ Chile chuyển theo xu hướng tả khuynh. Chỉ nên can thiệp khi nào quyền lợi thiết thân của Hoa Kì bị trực tiếp đe dọa bởi sự hiện diện đích thực của Liên Xô [Dẫn lại theo 7, tr.468].  Với sự hỗ trợ của bộ trưởng Ngoại giao Cyrus Vance và cố vấn an ninh  Zbigniew Brzezinski, tân tổng thống Carter đã đưa chủ nghĩa đạo đức truyền thống vào nền ngoại giao Hoa Kì. Ông chủ trương từ bỏ mọi chính sách bá quyền, gọi nhân quyền là “linh hồn trong chính sách đối ngoại của chúng ta” và biến nó thành hòn đá tảng trong quan hệ giữa Mĩ và các nước khác, giảm căng thẳng với Liên Xô và Trung Quốc, đấu tranh chống nghèo đói ở thế giới kém phát triển, chủ trương hợp tác quốc tế.

Như vậy, khác với những người tiền nhiệm, J. Carter không coi chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù chính ; ông thường nhắc lại rằng người Mĩ đã tỏ ra quá sợ cộng sản, trong lúc lại ít chú tâm đến hiểm họa lớn hơn là chạy đua vũ trang và ủng hộ quá nhiều các chế độ đàn áp hữu khuynh trên khắp thế giới. Trong bài diễn văn nhậm chức của mình, J. Carter nói rằng mục tiêu tối hậu của ông là xóa bỏ vũ khí hạt nhân. Ông muốn bắt tay ngay vào tiến trình tài giảm vũ khí và giảm thiểu công việc buôn bán vũ khí của Mĩ ở nước ngoài.

Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình
Trung Quốc là quốc gia được hưởng lợi nhất khi quan hệ Xô-Mĩ đi vào góc tối và khi Việt Nam quyết định đưa quân vào Campuchia để lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot.

Mục tiêu tối hậu trên chỉ có thể tìm thấy trong việc kí kết một hiệp ước SALT mới với Liên Xô, nước có lực lượng hạt nhân ngang hàng với Mĩ. Giống như J. Carter, bộ trưởng Ngoại giao Cyrus Vance là một người mạnh mẽ ủng hộ tiến trình hòa dịu và chủ trương một chính sách mang tính ôn hòa hơn với Liên Xô. J. Carter và Vance tin rằng đã đến lúc xác lập lại một mối quan hệ mới giữa hai nước nhằm giải phóng Mĩ khỏi “mối lo sợ quá mức” đối với chủ nghĩa cộng sản.

Nhưng “thời  kì lí tưởng” trong chính sách đối ngoại của Chính phủ J. Carter không kéo dài lâu. Chính sách “bảo vệ nhân quyền” đã làm suy yếu mối quan hệ giữa Hoa Kì và các nước Đồng minh thân cận lâu nay của Mĩ (Nam Triều Tiên, Cộng hòa Nam Phi…), bị Chính phủ Liên Xô và các nước Đông Âu tiếp nhận như là âm mưu can thiệp của chủ nghĩa đế quốc vào nội tình các nước này. Trong nước, chính sách này bị các chính khách hữu khuynh chỉ trích dữ dội.

Ngoài ra, cách tiếp cận mới của Washington đối với Liên Xô còn sớm bị thử thách ngay trong lĩnh vực nhạy cảm nhất trong tương quan lực lượng giữa hai nước – vũ khí hạt nhân và phương tiện mang chúng đến mục tiêu.

Mĩ thay đổi chính sách đối với Liên Xô – Học thuyết Carter

Quan hệ Đông-Tây trở nên căng thẳng hơn bởi một loạt biến cố nghiêm trọng diễn ra sau đó : tình hình căng thẳng ở vùng châu Á – Thái Bình Dương phát sinh từ sự có mặt của Quân đội Việt Nam trên lãnh thổ Campuchia, chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng 2.1979, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan ngày 24.12.1979, xung đột giữa Mĩ và Iran quanh vấn đề con tin, và một số hoạt động của Chính phủ Liên Xô đã, theo cáo giác của người Mĩ, vi phạm các nguyên tắc nhân quyền trong Định ước Helsinki. Tất cả các diễn biến vừa kể đã làm Chính phủ J. Carter thay đổi hẳn chính sách đối với Liên Xô. Ngày 23.1.1980, bình luận về sự can thiệp của Liên Xô ở Afghanista, J. Carter nói rằng “những hậu quả của việc Liên Xô xâm lăng Afghanistan đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với hoà bình thế giới, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai”. Cho rằng “hành động xâm lược không vấp phải sự chống đối sẽ trở thành căn bệnh lây lan”, Carter đã đưa ra câu tuyên bố mà không lâu sau được mệnh dnah là “chủ thuyết Carter” về “khuôn khổ của nền an ninh khu vực”. Ông tuyên bố : “Mọi ý đồ của các thế lực bên ngoài định thiết lập sự kiểm soát ở Vịnh Persic đều bị coi là xâm phạm tới lợi ích quan trọng của Hoa Kì  và sự xâm phạm đó sẽ bị đẩy lui bằng mọi cách, kể cả bằng sức mạnh quân sự”. Chính quyền Washington đã ra lệnh cắt đứt việc buôn bán ngũ cốc với Liên Xô, đình chỉ việc chuyển giao kĩ thuật cao và tẩy chay Thế vận hội Olympic 1980 dự định sẽ tổ chức ở Liên Xô. Ngoài ra, J. Carter còn yêu cầu Quốc hội tiếp tục trì hoãn việc phê chuẩn SALT-II, triển khai kế hoạch chế tạo tên lửa MX, thay SLBM Trident I bằng SLBM Trident II thế hệ mới, giúp đỡ các phe Hồi giáo li khai ở Afghanistan.

Chiến tranh Liên Xô và Afghanistan 1979
Việc Liên Xô sa lầy tại Afghanistan là một trong những nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh của quốc gia này về sau.

Không dừng lại ở những biện pháp chính trị, chính quyền Carter còn thay đổi cả quan niệm về chiến lược hạt nhân. Chỉ thị mật số 59 đề ngày 15.7.1980 được xây dựng trên quan niệm cho rằng chiến tranh hạt nhân, mà trong đó các cường quốc đối địch sẽ sử dụng toàn bộ các loại vũ khí hạt nhân, có thể không nhất thiết sẽ kết thúc thật nhanh, mà sẽ kéo dài, và trong quá trình đó, các đòn hạt nhân sẽ được giáng xuống các mục tiêu quân sự của Liên Xô. Trong lúc chờ đợi kịch bản này diễn ra, các tên lửa vẫn tiếp tục được nhằm vào các thành phố của Liên Xô. Rõ ràng là J. Carter bắt đầu thi hành một chính sách nhìn chung cứng rắn hơn đối với Liên Xô, so với bất kì người tiền nhiệm nào, kể từ Eisenhower. Tiến trình hòa dịu khởi đầu từ đầu thập niên 60 bị đặt trước nguy cơ bị đảo ngược để quay về thời căng thẳng của thập niên 50.

Cũng cần phải hiểu rằng phản ứng kể trên của Chính phủ Carter không những phát xuất từ nỗi thất vọng của họ trước chính sách đối ngoại của Liên Xô, mà còn chịu tác động mạnh của các lực lượng bảo thủ hữu khuynh trong nước, vốn rất lo lắng trước uy thế ngày càng sút giảm của Mĩ trên trường quốc tế. Tập trung quanh Ronald Reagan, ứng viên của đảng Cộng hòa cho chức tổng thống, họ gay gắt chỉ trích rằng J. Carter đã tỏ ra “mềm yếu” trong quan hệ với Liên Xô và coi thường nhiệm vụ củng cố sức mạnh quân sự của Mĩ trước “sự đe dọa ngày càng tăng về quân sự của Liên Xô”.

 

 

Chia sẻ

Bình Luận