Những luận điểm cơ bản trong khái niệm “phản ứng linh hoạt” do chính quyền Kennedy soạn thảo là gì? Những bất đồng nảy sinh giữa Mỹ và các nước Tây Âu trong nhiệm kì của Tổng thống Kennedy thuộc về những vấn đề chính trị-quân sự nào?

Tháng 11 năm 1960, Đảng Cộng Hòa thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống, và người trở thành Tổng thống Mỹ khi đó là (ứng viên Đảng Dân chủ John Fitzgerald Kennedy. Là một người tương đối trẻ tuổi (43 tuổi). Kennedy được xem là đại diện cho một thế hệ mới sau chiến tranh của các nhà chính trị Mỹ. Các bậc lão thành của những năm tháng chiến tranh, mà điển hình là D. Eisenhower, ở Mỹ đã rời khỏi vũ đài chính trị. Ở Liên Xô, “thế hệ chiến tranh” vẫn tiếp tục tại vị (cho đến tận giữa những năm 1980). Ngoài ra, trong những năm 1960, thế hệ này vẫn tiếp tục công việc điều hành ở Pháp, Cộng hòa liên bang Đức và ở nhiều nước Tây Âu khác. Và khái niệm phản ứng linh hoạt được ra đời.

“Đội Kennedy” bắt đầu xét lại các định đề trong đường lối chính trị quân sự của chính quyền trước. Những cải cách của J. Kennedy và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, người được coi là một trong số những nhà hoạt động sáng giá nhất của chính quyền mới, không mang tính cách mạng. Chính quyền của Đảng Dân chủ bắt đầu thừa nhận những điều mà chính quyền của Đảng Cộng hòa đã biết nhưng không muốn thừa nhận: Liên Xô và Mỹ đều có những từ huyệt đối với các đòn hạt nhân của nhau. Có thể kìm hãm được các lực lượng bộ binh của Liên Xô nhưng không thể ngăn cản được các tên lửa đạn đạo liên lục địa của Liên Xô giáng đòn vào lãnh thổ Mỹ. Vì vậy, sẽ chẳng bên nào được lợi nếu phải mạo hiểm bằng một cuộc chiến tranh tổng thể hay bằng xung đột với việc sử dụng toàn bộ sức mạnh tiềm lực hạt nhân đang có.

Ngược lại, theo suy luận của các lý thuyết gia Mỹ, nước Mỹ phải hành động một cách mềm dẻo và có chọn lọc. Không phải bất cứ cuộc xung đột cục bộ nào với đối phương cũng phải chuyển sang dạng xung đột tổng thể. Thậm chí không phải bất cứ cuộc xung đột hạt nhân nào cũng nhằm hủy diệt hoàn toàn quốc gia thù địch và giết hại người dân quốc gia đó. Để giành được chiến thắng, có thể chỉ cần tiêu diệt tiềm lực tấn công của đối phương (các căn cứ tên lửa liên lục địa dự trữ đầu đạn hạt nhân) và các mục tiêu là cơ sở hạ tầng quân sự trong khi vẫn bảo toàn được các mục tiêu dân sự (thành phố). Chiến lược “leo thang không hạn chế“ (all-out war) mà những người Cộng hòa theo đuổi, đã đối lập với tư tưởng “leo thang có kiểm soát” (mounting pressures). Mục tiêu được đặt ra là phải quản lý xung đột, điều chỉnh quy mô của nó và kiềm chế đụng độ, chí ít cũng trong một thời gian, trong chừng mực loại trừ được một cuộc chiến tranh tổng lực.

Về mặt lý thuyết, tư tưởng dễ bị thương tổn “leo thang có kiểm soát“ đã gây tranh cãi dưới góc độ thực tiễn: hệ thống quản lý tác chiến thời kỳ đầu những năm 1960, thậm chí ngay cả của Mỹ, không cho phép bảo đảm trình độ quản lý xung đột theo đúng yêu cầu. Tuy nhiên, khái niệm mới đã dự trù một số phương án hành động trong điều kiện chiến tranh và định hướng việc lựa chọn cách thức phản ứng tùy thuộc vào tình hình quốc tế cụ thể. Chính vì vậy, khái niệm mới này có tên gọi là phản ứng linh hoạt (flexible response).

Thực vậy, trước hết, không thể xác định được trước rằng trong sự “leo thang có kiểm soát” xung đột, khi nào sẽ xuất hiện thời điểm kịch biến, qua thời điểm đó sẽ là quá muộn để có thể ra lệnh sử dụng toàn bộ tiềm lực sẵn có chống lại đối phương. Vì vậy, về nguyên tắc, khái niệm mới không thể loại trừ “khái niệm đánh đòn phủ đầu” và không bảo đảm khi phát sinh tình huống mà trong đó Mỹ là đối tượng đầu tiên sử dụng vũ khí hạt nhân.

Có hai luồng tư tưởng một là, phản ứng linh hoạt trước mối đe dọa từ phía Liên Xô nhưng không bị sa lầy vào những “khiêu khích vụn vặt của cộng sản”, hai là, sẵn sàng trong trường hợp cần thiết là kẻ đầu tiên giáng đòn ngăn chặn. Cả hai luồng tư tưởng trên song hành với nhau trong mọi chỉ thị chính trị của Mỹ trong suốt thời gian những năm 1961 và 1962. Mãi cho đến năm 1963, Tổng thống Kennedy mới đi đến kết luận không sử dụng đòn phủ đầu nhằm vào Liên Xô bởi Liên Xô cũng sở hữu tiềm lực quân sự hùng mạnh không kém, không thể tiêu diệt được Liên Xô chỉ bằng một cú đòn. Có ý kiến cho rằng, Mỹ bắt đầu có những hành động thích ứng theo khái niệm phản ứng linh hoạt kể từ mùa xuân 1961 đến năm 1967, khái niệm này đã được phát triển, bổ sung và hoàn thiện khi nó chính thức được các nước NATO khác tán thành.

tấn công hạt nhân trong khái niệm linh hoạt trong giai đoạn chiến tranh lạnh
Chính quyền Tổng Thống Kennedy hiểu rằng không thể hủy diệt Liên Xô chỉ bằng một đòn. Và hai nước Liên Xô và Mỹ sẽ phải chịu những hậu quả khủng khiếp nếu tấn công hạt nhân lẫn nhau.

Những bất đồng nảy sinh giữa Mỹ và các nước Tây Âu trong nhiệm kỳ của Tổng thống Kennedy thuộc về những vấn đề chính trị-quân sự nào khi áp dụng chính sách phản ứng linh hoạt?

Sự phát triển tư duy đối ngoại và tư duy chiến lược của các nhân vật hàng đầu của chính quyền Mỹ và của chính Tổng thống Kennedy đã ảnh hưởng đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận của Mỹ về quan hệ với các nước đồng minh trong lĩnh vực chính trị -quân sự. Khái niệm phản ứng linh hoạt nhằm ngăn chặn “đụng độ không thể lường trước” với Liên Xô mang ý nghĩa phải tập trung hóa quá trình đưa ra những quyết định về việc phải phản ứng như thế nào trước những xung đột cụ thể về quyền lợi của phương Tây với những tham vọng của Liên Xô. Kennedy cho rằng, nước Mỹ là cường quốc hạt nhân chủ chốt của phương Tây, Mỹ gánh chịu phần rủi ro nặng nề nhất trong trường hợp có đụng độ vũ trang với Liên Xô, vì vậy, Mỹ phải đóng vai trò quyết định khi giải quyết vấn đề then chốt “tham chiến hay không tham chiến“ chống Liên Xô. Chính sách “tham gia hạt nhân” hoặc “chia sẻ hạt nhân” (nuclear sharing) mà D. Eisenhower theo đuổi, đã dẫn đến phân tán việc kiểm soát vũ khí hạt nhân của Mỹ ở châu Âu, và trên thực tế các nước châu Âu có thể sử dụng theo ý mình. Chính quyền của Đảng Dân chủ quan tâm đến việc tập trung kiểm soát và thực hiện kiểm soát theo nguyên tắc “chìa khóa kép”. Các nước châu Âu không thể sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ trên lãnh thổ của họ nếu không được sự đồng ý của Mỹ. Ngược lại, Mỹ cũng không thể sử dụng vũ khí hạt nhân nếu không được nước tiếp nhận tán thành.

Việc xây dựng “sức mạnh hạt nhân đa phương” của các nước Tây Âu đã trở thành luận đề thứ hai của chính quyền mới của Mỹ. Theo ý kiến của  Kennedy, cần phải thay đổi tổ chức tiềm lực hạt nhân quốc gia. Về nguyên tắc, ngay cả chính quyền D. Eisenhower cũng không muốn trợ giúp các nước NATO trong việc chế tạo vũ khí hạt nhân của riêng mình mà chỉ góp phần tổ chức phiên chế “đầu hạt nhân“ chung của các nước Tây Âu dưới sự chỉ huy của NATO. Nhưng trên thực tế, chính quyền tiền nhiệm đã nhắm mắt làm ngơ trước việc các nước Tây Âu nghiên cứu chương trình hạt nhân độc lập. Kennedy đã định hướng gắt gao việc tập trung kiểm soát. Tổng thống Mỹ và các cộng sự của ông tin tưởng rằng, việc Cộng hòa liên bang Đức tham gia vào “câu lạc bộ hạt nhân” có thể sẽ bị Liên Xô đánh giá là casus belli (nguyên có gây chiến tranh) mà Mỹ không muốn khiêu khích Liên Xô.

Điểm mới thứ ba của chính quyền Đảng Dân chủ là ngừng việc bố trí các tên lửa tầm trung tại châu Âu. Số tên lửa này được chuyển đến Anh, Italia và Thổ Nhĩ Kỳ từ cuối những năm 1950. Thay vì bố trí tên lửa ở căn cứ mặt đất, chính quyền Mỹ bắt đầu thảo luận với các đồng minh, chủ yếu là với Anh. vấn đề về việc bố trí trên tàu ngầm của các nước NATO tên lửa “Polaris” -loại vũ khí mới của Mỹ. Sự thay đổi này cũng liên quan đến khái niệm phản ứng linh hoạt. Các tên lửa “Thor’ và “Jupiter” đã trở nên lạc hậu, lỗi thời bởi chúng được triển khai trên mặt đất nên dễ bị phát hiện từ trên không. Việt chuẩn bị phóng cũng phải mất một vài giờ đồng hồ. Những tên lửa loại này chỉ hiệu dụng trong tấn công bất ngờ với tư cách vũ khí đánh đòn phủ đầu, nhưng khái niệm phản ứng linh hoạt kêu gọi hạn chế sử dụng chiến lược đánh đòn phủ đầu. Giới lãnh đạo Mỹ coi những tên lửa loại này là vũ khí khiêu chiến. Ngược lại, tên lửa “Polaris” đặt trên tàu ngầm là bộ thiết bị thích hợp, lý tưởng để ra đòn trả đũa và với ý nghĩa đó thì nó phù hợp với nội hàm khái niệm phản ứng linh hoạt.

khủng hoảng tên lửa cuba 1963 và phản ứng linh hoạt
Tên lửa Jupiter, một trong những nguyên nhân làm leo thang xung đột Liên Xô và Mỹ. Đáp trả việc Mỹ đặt tên lửa tại Thổ Nhĩ Kì, Liên Xô đã đặt tên lửa tại Cuba, gây ra cuộc khủng hoảng Caribe vào năm 1963.

Tuy nhiên, Mỹ có ý định đặt những tên lửa này dưới quyền kiểm soát của NATO. Công việc còn lại chỉ là thuyết phục các đồng minh châu Âu về những ưu thế của khái niệm mới.

Ba ý niệm này đã được đưa vào làm cơ sở cho bản báo cáo được cựu Ngoại trưởng D.. Acheson chuẩn bị theo chỉ thị của Kennedy. D. Acheson lại là người có ảnh hưởng đến đường lối đối ngoại của Mỹ trong một năm rưỡi đến hai năm, mặc dù lúc này chiếc ghế ngoại trưởng đã thuộc về Dean Rusk. Bản báo cáo được tổng thống tán thành, và đến tháng Tư 1961, chính phủ các nước Tây Âu đã được biết nội dung của nó.

Tháng Tư 1962; những phương hướng cơ bản trong chính sách của Mỹ ở NATO đã được trình bày chính thức và được mở rộng hơn trong một bài phát biểu bí mật của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trong kỳ họp của Hội đồng NATO tại Athens. Robert McNamara trình bày chiến lược mới Của Mỹ về chiến tranh hạt nhân. Tháng Sáu năm đó, nội dung bài phát biểu này được báo chỉ công bố chính thức. Nội dung cơ bản của bài phát biểu này được quy về năm luận điểm: Thứ nhất, chiến tranh hạt nhân được coi là chiến tranh “có điều khiển ” Thứ hai, Mỹ khẳng định đã sẵn sàng ứng cứu các đồng minh Tây Âu trong mọi hoàn cảnh bất thường. Thứ ba, nhiệm vụ cơ bản của các lực lượng vũ trang Mỹ trong trường hợp xảy ra chiến tranh với Liên Xô là phải hủy diệt tiềm lực giáng đòn trả đũa từ phía Liên Xô. Thứ tư, phía Mỹ tuyên bố sẽ không tấn công các mục tiêu dân sự của Liên Xô, các thành phố và nơi trú ẩn của dân thường (luận điểm này về sau được phát triển thành “chiến lược phản- sức mạnh” (tiếng Anh gọi là “counterforce-no-cities” strategy). Thứ năm, bài phát biểu nhấn mạnh mục tiêu chính của các đòn tấn công của Mỹ là các mục tiêu quân sự của Liên Xô, trước hết là lực lượng hạt nhân Liên Xô. Đây là cách diễn giải mở rộng nhất và đầy đủ nhất của định đề phản ứng linh hoạt.

Mùa xuân 1961 quan điểm mới của Mỹ đã gây ra phản ứng mâu thuẫn trong các đồng minh châu Âu. Pháp và Cộng hòa liên bang Đức là hai đồng mình đặc biệt bị kích động. Tháng Hai 1960 Pháp, thử vũ khí hạt nhân riêng của mình tại sa mạc Sahara ở miền Nam Angiêri và coi chính sách của Mỹ là nhằm ý định hạn chế tiềm lực hạt nhân quốc gia của Pháp. Cộng hòa liên bang Đức muốn theo gương Pháp, chống tại những hạn chế do chính sách áp đặt của Mỹ. Tuy nhiên, Cộng hòa liên bang Đức không dám công khai bác bỏ bởi vào giai đoạn này Cộng hòa liên bang Đức chưa tính toán một cách nghiêm túc việc xây dựng sức mạnh hạt nhân độc lập, và lại với việc tham gia vào chương trình hạt nhân của NATO có thể tạo cho Bonn cơ hội tiếp cận với nút bấm hạt nhân theo một dạng thức nào đó.

Anh, về nhiều mặt, cũng nhất trí với Pháp và Cộng hòa liên bang Đức. Nhưng trong vấn đề phát triển vũ khí hạt nhân thì Anh lại vượt xa cả hai nước Pháp, Đức. Người Anh cho rằng, nếu tận dụng được mối quan hệ “đặc biệt” với Mỹ thì có thể mặc cả được vị trí ưu tiên trong hệ thống hợp tác hạt nhân phạm vi NATO.

Bài viết có thể bạn quan tâm:

  1. Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
  2. Mỹ đã biến Nhật Bản thành quốc gia như thế nào sau thế chiến 2?
  3. Cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai (tháng 8.1961), theo tài liệu của thầy Lê Phụng Hoàng
    Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

 

 

Bình Luận