Nước Đức những năm 50, nỗi đau bị tứ cường xâu xé

Vấn đề nước Đức, quốc gia này chiếm vị trí trung tâm trong quan hệ của Tứ cường ở châu Âu trong thời hậu chiến, vì có quan hệ thiết thân đến quyền lợi riêng của cả bốn nước. Việc giải quyết nó theo chiều hướng nào sẽ tác động trực tiếp đến vị thế của cả bốn nước này tại lục địa châu Âu cũng như trên trường quốc tế.

Thực ra, không cần phải đợi đến lúc này vấn đề Đức mới thu hút sự chú ý của bốn nước. Ngay sau khi nước Đức được thống nhất (1871), vấn đề Đức đã chi phối toàn bộ chính sách đối ngoại của Pháp ở châu Âu, và từ thập niên 1880 trở đi đã trở thành mối bận tâm chính của Nga và Anh. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vị trí của Đức trong chính sách đối ngoại của Pháp vẫn không đổi, nhất là nước Nga Sa Hoàng, đồng minh khi xưa giờ đã trở thành kẻ thù. Chính vì tình trạng  chia rẽ và nghi kị giữa các cường quốc châu Âu và chính sách biệt lập của Mĩ, nước Đức đã có dịp phục hồi bộ máy chiến tranh và gây ra cuộc chiến tranh thế giới mới.

Không lâu sau chiến tranh, giữa các cường quốc thắng trận đã diễn lại tấn tuồng cũ: sự chia rẽ và ngờ vực lẫn nhau. Hậu quả là nguyên tắc 4-D(1) được xem là nền tảng của chính sách đối với nước Đức bại trận đã bị các cường quốc thắng trận thực hiện theo cách sao cho phù hợp với quyền lợi riêng của mình, và tệ hại hơn, bất chấp quyền lợi của nước cùng chiếm đóng. Cuộc khủng hoảng Berlin (kéo dài từ 18.6.1948 đến 12.5.1949) là biểu hiện cụ thể cho thấy mâu thuẫn giữa hai bên quanh vấn đề Đức đã phát triển đến giai đoạn không thể dung hòa được.

Là đất nước chịu đựng nhiều tàn phá nhất do cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức gây ra, Liên Xô, cũng giống như nước Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, muốn rằng nước Đức bại trận thời hậu chiến sẽ không bao giờ còn có cơ hội trở thành mối đe dọa đến an ninh của Liên Xô nữa. Để đạt được mục tiêu này, nước Đức, theo quan điểm của Stalin, nếu không thể trở thành nước XHCN giống như những nước Đông Âu khác, thì chí ít phải theo đường lối trung lập, có một lực lượng quốc phòng vừa đủ để tự vệ, không được tham gia bất kì liên minh quân sự nào, không bị quân đội nước ngoài chiếm đóng.

Berlin là nơi quân Đồng Minh lẫn Hồng Quân đều phải chiếm trước cho bằng được để lấy lợi thế trên bàn đàm phán hậu chiến.

Về phía các cường quốc thắng trận phương Tây, quan điểm của Anh và Hoa Kì đối với tương lai của nước Đức bại trận có phần khác so với Liên Xô. Lúc đầu, họ không muốn thấy lặp lại điều mà họ coi là sai lầm trong chính sách đối với Đức sau Chiến tranh thế giới thứ nhất: làm cho nước Đức kiệt quệ để rồi sau đó phải bỏ tiền của ra nuôi sống nó. Rồi chẳng lâu sau, họ nhìn thấy trong tiến trình xác lập chế độ dân chủ nhân dân ở các nước Đông Âu điều mà họ tin là tham vọng bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu, hay nói khác đi là sự lặp lại chính sách “xuất khẩu cách mạng” của chính quyền Xô viết trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Mười. Càng đáng lo hơn là giờ đây Liên Xô nắm ưu thế rõ rệt về lực lượng quân sự quy ước trên lục địa, bỏ xa các cường quốc phương Tây. Riêng Pháp lúc đầu có thể tìm thấy trong chính sách của Liên Xô sự phản ánh ít nhiều quan điểm của họ đối với Đức. Nhưng, do rất nhiều nguyên nhân  cả đối ngoại lẫn đối nội, giới cầm quyền chế độ Cộng hòa thứ Tư(2) mau chóng ngả theo lập trường của Hoa Kì và Anh.

Sang năm 1949, các nước chiếm đóng phân thành hai phe rõ rệt: Liên Xô một bên, Hoa Kì, Anh và Pháp một bên. Quan hệ giữa hai bên giờ đã trở nên xấu đến mức cả hai xem sự tồn tại của đối phương là “hiểm họa” cho chính sự tồn tại của mình. Nếu đã không đủ sức đảo ngược tình thế ở Đông Âu do sự hiện diện của một lực lượng Hồng quân đông đảo ở đó, phương Tây quyết không để lặp lại những kinh nghiệm Đông Âu trên phần lãnh thổ còn lại của châu Âu. Vậy  là chính sách “ngăn chặn”, kế hoạch Marshall và cuối cùng “NATO” nối tiếp nhau ra đời.

Tây Đức vs Đông Đức, một dân tộc bị chia rẽ và đối đầu

Do có vị trí chiến lược và tiềm năng rất lớn về kinh tế lẫn quốc phòng, Tây Đức, dưới con mắt của các nhà hoạch định chính sách đối ngoại phương Tây, giữ vai trò có tính chất quyết định trong chính sách “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, cuối cùng Pháp đành ưng thuận kết nạp Tây Đức vào NATO.

Đánh giá diễn biến trên như là sự xâm phạm những nghị quyết của Hội nghị Potsdam, Liên Xô cho rằng phương Tây đang nuôi ý đồ tái vũ trang nước Đức và làm sống lại chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phục thù của các giới phản động Đức. Một nước Đức như vậy tất chỉ có thể là mối đe dọa trực tiếp cho an ninh đất nước Xô viết. Vậy là nhiều chiến dịch vận động ngoại giao kế tiếp nhau ra đời với cùng một mục đích: khuyến dụ các nước phương Tây thuận tình lập lại nước Đức thống nhất theo chế độ hiệp bang, trên cơ sở các cuộc thương lượng giữa hai nhà nước Đức hiện tồn tại một cách riêng lẻ, có chủ quyền, không bị quân đội nước ngoài chiếm đóng sau khi đã kí hòa ước với các nước cừu địch trong thời chiến tranh, không tham gia bất kì một liên minh quân sự nào, tóm lại phải theo đường lối trung lập, không được xây dựng quân đội vượt quá yêu cầu tự vệ. Sau khi Đức gia nhập NATO trong tư cách một thành viên có chủ quyền đầy đủ, Liên Xô đã hé lộ khả năng chấp nhận hai nước Đức từ đây sẽ tồn tại như hai thực thể chính trị riêng biệt, độc lập với nhau và có đầy đủ chủ quyền.

berlin-1950s
Chiếm được toàn bộ nước Đức, Liên Xô có thể kiểm soát tất cả Châu Âu và thay đổi bàn cờ chính trị thế giới.

Giới cầm quyền các nước phương Tây về cơ bản không bác bỏ hẳn những đề nghị của Moskva, nhưng họ không chịu bàn bất cứ chuyện gì khác trước khi giải quyết xong vấn đề tổng tuyển cử tự do trong cả nước Đức dưới sự giám sát của LHQ. Quốc hội mới được bầu ra sẽ thành lập chính phủ. Khi Liên Xô đồng ý về nguyên tắc “tổng tuyển cử tự do”, các nước phương Tây lại đưa ra yêu sách đòi lập đoàn thanh tra xem cả hai nước Đức có hội đủ điều kiện chính trị cho một cuộc tuyển cử trung thực không. Yêu sách của họ rõ ràng hàm ý không thừa nhận CHDC Đức là một đất nước có đầy đủ chủ quyền. Vả chăng, họ cũng đã tính toán rằng nếu nước Đức được thống nhất bằng con đường tổng tuyển cử tự do, các chính khách Tây Đức thân phương Tây chắc chắn sẽ giành được thắng lợi, vì dân số Tây Đức đông gần gấp ba lần dân số Đông Đức (trên 54 triệu so với trên 17 triệu, theo số liệu cuối thập niên 1950). Hiểu được dụng ý của phương Tây, Liên Xô đã bác bỏ kế hoạch của họ(3).

Phương Tây có thể không tính đến sự tồn tại của CHDC Đức, nhưng Liên Xô lại không thể hành xử như thế với CHLB Đức, vì vị thế của nước này trên chính trường châu Âu, vốn đã rất quan trọng, nay càng trở nên có ý nghĩa hơn sau khi đã trở thành thành viên chính thức của NATO. Do vậy, tại Hội nghị thượng đỉnh Geneva, Liên Xô đã quyết định chuyển hẳn sang lập trường thừa nhận sự tồn tại của hai nước Đức độc lập với nhau, đẩy vấn đề Đức xuống hàng thứ hai và đưa vấn đề an ninh tập thể châu Âu lên vị trí hàng đầu. Trong bối cảnh của sự thay đổi này, sẽ là không có lợi cho quyền lợi của Liên Xô, nếu Moskva tiếp tục cự tuyệt các quan hệ chính thức với Bonn.

Ghi chú:

(1) ) Đó là: denazification (phi phát xít hóa), demilitarization (phi quân phiệt hóa), demonopolisation (phi độc quyền hóa) và democratization (dân chủ hóa). Các nguyên tắc này đã được xác lập ở Hội nghị Potsdam (1945).
(2) Chế độ này tồn tại ở Pháp từ ngày 18.10.1946 đến ngày 4.10.1958

(3) Lập trường của phương Tây đối với vấn đề Đức trong nửa đầu thập niên 50 được xác lập qua các công hàm ngoại giao đề ngày 25.3, 10.5 và 10.7.1952, còn của Liên Xô là 9.4, 24.5, 23.8 và 23.9.1952

Bài viết có thể bạn quan tâm

  1. Châu Âu, những năm đầu của Chiến Tranh Lạnh
  2. Hội nghị Yalta và Postdam, ông bà đỡ của Chiến Tranh Lạnh
  3. Văn kiện NSC-68, lời tuyên chiến của Mỹ dành cho Liên Xô

Bình Luận