Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt trên lục địa châu Âu (5-1945), Chính phủ Hoa Kì đã cho giải ngũ và đưa về nước phần lớn lực lượng viễn chinh của mình. Hậu quả là sau khi quan hệ đồng minh thời chiến giữa các nước phương Tây chủ chốt (Hoa Kì, Anh, Pháp) và Liên Xô không những chấm dứt, mà còn trở nên căng thẳng đến mức như đang trong trạng huống chiến tranh, Chính phủ Washington chỉ có thể dựa vào sức mạnh kinh tế – tài chính và độc quyền vũ khí hạt nhân để thực hiện chiến lược “ngăn chặn” chống lại điều mà họ gọi là “hoạt động bành trướng của chủ nghĩa cộng sản Xô viết ở châu Âu”, vì  Liên Xô đang kiểm soát một lực lượng quân sự quy ước khổng lồ, vượt xa lực lượng quân sự của cả Hoa Kì, Anh và Pháp cộng lại. Sự ra đời của văn kiện NSC-68 có thể được xem là lá thư khiêu chiến và thách thức đầu tiên của Mỹ dành cho Liên Xô.

Văn kiện NSC-68, Liên Xô đang thách thức và đe dọa tiềm lực của nước Mỹ

Nếu sức mạnh kinh tế-tài chính của Hoa Kì là điều không thể nghi ngờ, thì ưu thế về độc quyền vũ khí hạt nhân của nước này xem ra là một dấu hỏi lớn: số lượng, kĩ thuật sản xuất, phương tiện mang chúng đến mục tiêu…, vì trong một cuộc diễn tập năm 1948, không một quả bom nào được thả trúng mục tiêu. Dấu hỏi này không lâu sau trở thành dấu chấm than, khi tháng 9-1949, Hoa Kì phát hiện ra rằng Liên Xô đã thử nghiệm thành công bom A.

Không đồng ý với lập luận của G. Kennan, tác giả của thuyết “ngăn chặn” nổi tiếng, theo đó Liên Xô không hề có ý định xâm lăng Tây Âu, rằng nỗ lực ngăn chặn “sự bành trướng của Liên Xô” đã thành công, giờ đã đến lúc nghĩ đến các cuộc đàm phán nhắm đến một hiệp ước đảm bảo nền trung lập của châu Âu và rút phần lớn lực lượng nước ngoài khỏi Đông và Tây Âu, Tổng thống H. Truman ngày 31-1-1950 đã ra lệnh cho các Bộ Ngoại giao và Quốc phòng “duyệt xét và đánh giá lại toàn bộ chính sách đối ngoại và quốc phòng của Hoa Kì dưới ánh sáng của các sự biến: Trung Quốc bị mất, Liên Xô làm chủ năng lượng hạt nhân và viễn cảnh chế tạo bom H”.

Sự ra đời của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
Để Trung Quốc rơi vào tay cộng sản là một thất bại lớn của Mỹ.

Nội dung chính của văn kiện

Sau hơn ba tháng làm việc, Uỷ ban Liên bộ Ngoại giao-Quốc phòng đã soạn thảo một báo cáo, mà sau đó được Hội đồng An ninh quốc gia dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Truman thông qua ngày 25.4.1950 và được mang kí hiệu NSC-68 (mãi đến ngày 27.2.1975, văn kiện này mới được công bố công khai).

Được đánh giá là “một trong những văn kiện chính của Chiến tranh lạnh”, “một sự xác định toàn diện đầu tiên về chiến lược quốc gia”, NSC-68 coi Liên Xô là mối đe dọa vĩnh viễn cho sự tồn tại của Mĩ, Liên Xô phải bị kiềm chế hoặc bị tiêu diệt, nếu không Mĩ sẽ “không thể tiếp tục tồn tại như là một xã hội tự do”. Phát xuất từ quan điểm này, văn kiện nhấn mạnh rằng “Mĩ phải tiến hành một cuộc chiến tranh thực sự với người Xô viết hay với những người làm thay họ ở bất cứ nơi nào trên thế giới”. Để làm được như vậy, Mĩ phải tăng cường khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh bằng các loại vũ khí quy ước để qua đó thu hẹp sự lệ thuộc vào vũ khí hạt nhân và giảm thiểu viễn cảnh của một cuộc chiến hạt nhân  NSC-68 cổ vũ “việc tăng cường ngay lập tức và trên quy mô lớn lực lượng quân sự và lực lượng nói chung của chúng ta và của các Đồng minh nhằm mục đích đạt được thế cân bằng lực lượng và với hi vọng rằng chúng ta có thể khiến chế độ Xô viết thay đổi về bản chất bằng những phương sách khác hơn là bằng một cuộc chiến tranh toàn diện

đối đầu Xô Mỹ trong chiến tranh lạnh
Chiến tranh Liên Triều làm Mỹ nhận ra rằng, Liên Xô đã sãn sàng cho xung đột với Mỹ.

Văn kiện cho rằng trong lúc phương Tây đang mong chờ chế độ Xô viết bớt cứng rắn hơn, Mĩ phải tái vũ trang để chặn đứng bất kì sự bành trướng nào của Liên Xô. Văn kiện cảnh báo rằng đến năm 1954, Liên Xô sẽ có đủ lực lượng hạt nhân để tàn phá Mĩ. Do vậy, Mĩ phải đề ra một “kế hoạch táo bạo và quy mô” xây dựng lại phương Tây cho đến khi nó vượt xa khối Xô viết; chỉ có làm như vậy, Mĩ mới có thể đứng ở “trung tâm chính trị và vật chất, với các quốc gia tự do khác xoay quanh”. Người Mĩ không nên tiếp tục cố tìm cách “phân biệt giữa an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu”. Bằng những số liệu cụ thể, NSC-68 dự trù trích 20% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) cho chi phí vũ trang, đưa ngân sách quân sự từ 13,5 tỉ lên 48,2 tỉ USD, tăng quân số thêm một triệu người trong vòng một năm, số chiến đấu cơ tăng 52%, đưa nước Mỹ trở lại vị thế sở hữu quân đội có thể được xem là mạnh nhất trong lịch sử nhân loại tính cho đến lúc bấy giờ.

Thông tin bổ sung: Lúc Đức đầu hàng, quân số quân đội Mĩ  vào khoảng 8,290 triệu; đến cuối tháng 5-1945 chỉ còn khoảng trên 4 triệu, cuối tháng 6-1946 còn gần 1,9 triệu. Sau đó, quân số tiếp tục giảm xuống không ngừng: 1,349 triệu (cuối 1946), 0,989 triệu (giữa 1947). Tháng 12-1948, vào thời điểm diễn ra sự kiện tháng Hai ở Tiệp Khắc, quân số Mĩ là 898.000. Còn chi phí quốc phòng giảm từ 45 tỉ (1945) xuống còn 11 tỉ (1948) . Trong khi đó, Liên Xô có một đạo quân đông gần 4 triệu, lực lượng trừ bị đông gấp 3 lần va tiếp tục tuyển thêm 0,8 triệu hàng năm.

Bài viết bạn có thể quan tâm

  1. Châu Âu, những năm đầu của Chiến Tranh Lạnh
  2. Chủ nghĩa vô chính phủ và sự hấp dẫn của nó
  3. Chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế là gì?
Chia sẻ

Bình Luận