Lịch sử vấn đề chương trình hạt nhân của Triều Tiên

Để hiểu hơn vì sao Triều Tiên lại ham muốn sở hữu vũ khí hạt nhân, trước tiên phải xem xét lại lịch sử của quốc gia này tại thời điểm sau khi chiến tranh liên Triều kết thúc vào năm 1953. Sau khi hai miền đạt được hiệp định đình chiến tại Bàn Môn Điếm năm 1953, Bình Nhưỡng hiểu được rằng để duy trì chế độ hiện tại và cân bằng sự hậu thuẫn về quân sự, kinh tế đối với miền Nam, bắt buộc họ phải sở hữu vũ khí hạt nhân. Ngoài ra, trong giai đoạn chiến tranh Triều Tiên đang trong giai đoạn đỉnh điểm, Mỹ luôn đe dọa sẽ thả bom nguyên tử xuống biên giới Triều Tiên-Trung Quốc để ngăn cản chiến thuật biển người của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa.

Cụ thể trong cuộc gặp với Ngoại trưởng Ấn Độ vào cuối năm 1950, ông John Foster Dulles, sau đó là Ngoại Trưởng dưới chính quyền Truman, đã gợi ý rằng Mỹ sẽ nghiêm túc suy nghĩ về một ‘biện pháp quyết liệt’ để chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên càng sớm càng tốt.

Và Jawaharlal Nehru, chuyển thông tin này đến Thủ Tướng Chu Ân Lai. Lúc này, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chỉ mới thành lập năm 1949 và Liên Xô chỉ mới thành công với bom H, hoàn toàn không có khả năng cạnh tranh về chiến lược hạt nhân với Mỹ. Tuy nhiên, Stalin đã hứa sẽ cung cấp lượng vũ khí và cố vấn quân sự đủ để Triều Tiên đè bẹp Hàn Quốc trong thời gian ngắn.  Thế nhưng trong lúc này, lợi thế lại thuộc về người Mỹ và Washington đang ngày càng đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, một biện pháp ‘tống tiền’ Mỹ sau đó tiếp tục ép buộc giới lãnh đạo Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên phải nhượng bộ vào thỏa thuận đình chiến.

Cảm thấy sự bất lực của đồng minh của mình, nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Il-Sung đã quyết định xây dựng một lò phản ứng hạt nhân để tự bảo vệ mình và không bị đe dọa, uy hiếp trong tương lại.

Giai đoạn 1950-1960: Giai đoạn căng thẳng trên bán đảo Triều tiên

Việc Mỹ triển khai vũ khí hạt nhân chiến thuật cho Hàn Quốc vào giữa những năm 1950 dường như đã làm thêm trầm trọng những lo ngại về an ninh của Triều Tiên làm củng cố thêm niềm tin vào sự sáng suốt phát triển hạt nhân của Bình Nhưỡng. Việc Mỹ triển khai pháo binh cỡ 280mm có thể bắn đầu đạn hạt nhân và tên lửa hạt nhân MGM-1 Matador có tầm bắn 1100km, tiếp đến là Mace có tầm bắn 1800km và tên lửa đất đối không MIM-14 Nike Hercules[1], làm củng cố thêm sức mạnh quốc phòng và răn đe của Seoul đối với Bình Nhưỡng.

Giai đoạn những năm 1960-1980: Những nỗ lực làm giảm tham vọng hạt nhân của Triều Tiên của Mỹ.

Mặc dù bị ảnh hưởng nhiều về các vấn đề liên quan đến chính trị-kinh tế-xã hội bởi sự mâu thuẫn không thể hàn gắn giữa hai đồng minh lớn là Liên Xô và Trung Quốc. Nhưng Triều Tiên vẫn ráo riết bám đuổi bằng mọi giá chương trình hạt nhân và đã có những thành tựu đáng kể vào năm 1984, khi vệ tinh của Liên Xô chụp được Bình Nhưỡng đang cố gắng xây dựng một lò phản ứng hạt nhân thứ hai tại Yeong-byeon. Và với sự hối thúc và là đồng minh duy nhất cung cấp những công nghệ để phát triển hạt nhân là Liên Xô, Bình Nhưỡng đã ký vào Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

1988: Bằng chứng về tiến trình hạt nhân của Triều Tiên

Thật không may, các tiến trình kiểm tra thường xuyên các cơ sở hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đã không đạt được cho đến cuối năm 1988 do sự trì hoãn của IAEA và Bình Nhưỡng.  Các quy trình kiểm tra thường xuyên như vậy dự kiến ​​sẽ được hoàn thành trong vòng 18 tháng sau khi Bình Nhưỡng ký NPT.Trong cuối năm 1988, vệ tinh Mỹ đã phát hiện một số phát triển quan trọng tại lò phản ứng hạt nhân Yeong-byeon. Cho thấy Triều Tiên đang xây dựng hai lò phản ứng hạt nhân lớn với công suất 50-Mw và 200-Mw, có tên gọi là “Phòng thí nghiệm Hóa học vô tuyến điện” theo thuật ngữ của Bắc Triều Tiên và tiến hành các chất nổ cao nhằm mục đích thiết kế các loại đầu đạn hạt nhân. Theo quan sát các cơ sở hạt nhân Bình Nhưỡng đang xây dựng, có thể sản xuất plutonium vũ khí đủ để tạo ra 30-40 đầu đạn hàng năm, nếu hoạt động bình thường và liên tục.

1989-1990: Những nỗ lực từ phía Mỹ và Hàn Quốc đối với chương trình hạt nhân của Triều Tiên

Nhận thức được mối đe dọa nghiêm trọng cả về chế độ NPT đối với Hoa Kỳ và an ninh của Hàn Quốc, Washington và Seoul bắt đầu thuyết phục Triều Tiên ký thoả thuận của IAEA vào đầu năm 1990 như là bước đầu tiên hướng tới kết thúc chương trình hạt nhân của Triều Tiên bằng cách Bình Nhưỡng ngừng ngay chương trình hạt nhân vào tháng 9 năm 1991. Đổi lại, Mỹ sẽ thu hồi toàn bộ vũ khí hạt nhân chiến thuật được triển khai trên Hàn Quốc từ giữa những năm 1950, kết thúc cuộc tập trận có tên “Team Spirit” được tổ chức hằng năm giữ Mỹ và Hàn Quốc được Triều Tiên xem là “bài tập hạt nhân để xâm chiếm Triều Tiên”, dựa theo thuật ngữ của Bình Nhưỡng.

Tiếp đến từ năm 1992, là đề xuất một cuộc thảo luận cấp cao về bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ. Cả Washington và Seoul đều cố gắng đưa ra những lời chào gọi hấp dẫn để Bình Nhưỡng hủy bỏ chương trình hạt nhân của mình.[2]

1991-1992: Giai đoạn tốt đẹp trên bán đảo Triều Tiên

Bình Nhưỡng đã phản ứng tích cực với sáng kiến ​​này và đạt được hai

thỏa thuận lịch sử với Hàn Quốc vào tháng 12 năm 1991 và với IAEA vào tháng 5 năm 1992. Hiệp định đầu tiên là “Hiệp định cơ bản giữa Nam và Bắc” bao gồm:

1) Cam kết một quá trình thống nhất hai miền dựa trên thể chế một nhà nước liên bang.

2)  Triều Tiên sẽ để cho IAEA vào các lò phản ứng hạt nhân để kiểm tra chương trình hạt nhân của mình với sự giám sát của quốc tế.

Trong khi đó, một nỗ lực để tiến hành kiểm tra định kỳ giữa Triều Tiên và IAEA bắt đầu vào đầu năm 1992. Trong tháng 2 năm 1992, hai bên đã gặp nhau tại Geneva để ký vào bản dự thảo thỏa thuận thanh tra, và sau đó là Hội đồng Nhân dân Tối cao Triều Tiên  (SPA) đã phê chuẩn thỏa thuận này vào tháng 4. Ngay sau khi Tổng giám đốc của IAEA, Hans Blix, đã thăm Bình Nhưỡng tháng 5 năm 1992 để đưa ra các quy tắc cơ bản cho đợt kiểm tra này, một cuộc kiểm tra thường xuyên được chờ đợi bắt đầu vào cuối tháng 5 năm 1992.

chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng
Tuy rất muốn đạt được một thỏa thuận có lợi đối với Hàn Quốc và Mỹ, nhưng Triều Tiên vẫn cố gắng giấu nhẹm đi những thành tựu về hạt nhân để phòng ngừa Mỹ và đồng minh của mình sẽ trở mặt.

1992-1993: Căng thẳng gia tăng

Sự khởi đầu thuận lợi cho việc phi hạt nhân hoá Triều Tiên không kéo dài vì cuộc đàm phán giữa Triều Tiên và Hàn Quốc vấp phải một số vấn đề trong khâu thực hiện. Seoul muốn tiến hành các cuộc kiểm tra sâu rộng và ngẫu nhiên với một thông báo ngắn gọn để tránh khả năng Bắc Triều Tiên gian lận. Ngược lại, miền Bắc duy trì kiểm tra hạn chế và thường xuyên, chỉ trong các khu vực được tuyên bố. Vì thế, không có tiến triển nào cho đến giữa năm 1992 và tranh chấp giữa hai miền Triều Tiên gần như tiến gần đến mức làm sáng tỏ là sự nghi ngờ của IAEA đối với Triều Tiên đã nổi lên vào tháng 6 năm 1992. Nhóm thanh tra IAEA đã tìm thấy một sự khác biệt đáng kể giữa số lượng plutonium mà Triều Tiên lấy từ lò phản ứng thực nghiệm hoạt động hiện tại và lượng plutoni dự kiến ​​trên cơ sở phân tích khoa học của đội kiểm tra. Để tìm hiểu thêm sự khác biệt đáng kể này, đoàn thanh tra yêu cầu Bình Nhưỡng cho phép truy cập ngẫu nhiên vào hai cơ sở “nghi ngờ” không được công bố trong khu phản ứng hạt nhân Yeongbyeon và Triều Tiên từ chối đề nghị này, nói rằng những cơ sở đấy thuộc về quân sự, không thể để IAEA vào thanh tra vì làm thế là làm suy yếu đi chủ quyền của họ.

Vào mùa thu năm 1992 và đầu năm 1993, căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên lại một lần nữa gia tăng với sự phản ứng của Seoul và Washington khi tuyên bố sẽ tiếp tục cuộc tập trận “Team Spirit” vào năm 1993. Đồng thời, IAEA yêu cầu Bình Nhưỡng  cho phép thanh tra một số cơ sở đáng nghi ngờ và sẽ đệ trình sự bất hợp tác của Triều Tiên lên Hội Đồng Bảo An. Đáp lại những động thái trên, Bình Nhưỡng tuyên bố rằng các biện pháp trừng phạt lên Triều Tiên sẽ là sự tuyên chiến và đặt quốc gia này trong tình trạng “chiến tranh tự vệ” dưới sự lãnh đạo của  nhà lãnh tụ vĩ đại Kim Il-Sung và lãnh đạo đáng kính Kim Jong-Il.[3]
Chú thích

[1] Peter Hayes, Pacific Powder keg: American Nuclear Dilemmas in Korea (Lexington: Lexington Books,1991),  trang 35 và trang 48-49.

[2] Để có được sự chấp nhận ngoại giao từ Liên Xô và Trung Quốc trong việc áp đặt lệnh trừng phạt lên Triều Tiên trong trường hợp nước này phản đối các đề xuất từ Mỹ và Hàn Quốc. Chính quyền Bush sẽ thu hồi tất cả vũ khí hạt nhân chiến thuật trên toàn thế giới không chỉ ở Hàn Quốc. Chính điều này đã làm suy yếu sức mạnh ngăn chặn của Mỹ đối với Iraq, quốc gia cũng đang được xem sở hữu vũ khí hủy diệt hang loạt. Kết quả là sau khi đạt được thỏa thuận trên, Mỹ chính thức tuyên bố rút vũ khí hạt nhân chiến thuật vào tháng 9 năm 1991, vài tháng sau khi cuộc chiến tranh vùng Vịnh kết thúc.

[3] Phó Nguyên Soái, Tổng tham mưu quân đội Triều Tiên Choe Kwang tuyên thệ rằng quân đội Triều Tiên sẽ giáng những đòn nặng nề và thống nhất hai miền bằng sức mạnh quân sự mà không vấp phải thất bại nào.

Bài viết bạn có thể quan tâm:

Triều Tiên nên phi hạt nhân như Iran nếu không muốn bị Mỹ tấn công

Cái giá phải trả khi Triều Tiên thống nhất là gì?

Đối đầu Xô-Mĩ và sự thành lập hai nhà nước Triều Tiên

Chia sẻ

Bình Luận