Người ta đã nói quá nhiều về ngôn ngữ

“Linh hồn tiếng Việt không hề mất. Cái ý vị vô song của ca dao, tục ngữ, của những câu Kiều, những câu ngâm của người chinh phụ vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hằng ngày của dân ta” – Cao Xuân Hạo, cây bồ đề của làng Ngôn ngữ học Việt Nam đã nói thế. Nhưng hãy thành thật với chính mình đi, hãy như một con người của khoa học ngôn ngữ và đặt bản thân vào một nơi mà bản thân ta soi rọi cao hơn là việc được hưởng ánh sáng của minh triết thiêng liêng chiếu xuống. Vị thế của con người là kẻ sáng tạo và đấng tác gia. Cái “ý vị vô song” không gì hơn là lời khen cho những con người kiệt xuất, sử dụng ngôn ngữ thuần thục và tạo nó thành một thứ người đương thở phải lắng nghe, và người đời sau phải thán phục.

Nếu có thể nói, thán phục và hâm mộ là những gì một nhà nghiên cứu làm rất giỏi. Nhưng ngôn ngữ là công cụ, thán phục tạo phẩm tài hoa là chuyện thường tình. Chúng ta thấy rất rõ điều này, song lại thấy quá ít những gì ở hiện tại có khả năng để làm ta phải ngưng lại, và nghe. Có quá ít điều gì đó níu ta lại. Một dòng tin nhắn (message), một lá thư (mail), tíc tắc, nó truyền thụ cái cốt cán của ngôn ngữ mà không cần thông qua một lần suy nghĩ bề sâu thứ hai để lắng đọng. Đơn giản, những gì chúng viết nên là nghĩa đen vì hiện nay chẳng mấy ai đọc một tin nhắn mươi chữ quá ba lần. Người ta cũng đề cao phương thức ngôn ngữ là phải có khả năng thẩm thấu cao để tạo ra khả năng chuyển giao ý tưởng từ người này sang người khác một cách nhanh nhất có thể,đương thời, ta gọi nó là “chuyên nghiệp hóa.” Trong một thành phố nơi những gì ta làm đưa cho nhau những mảnh giấy vụn qua kẻ vô hình ẩn trong làn gió là wifi, ta xé nhỏ ngôn ngữ tới mức nó thực hiện từng chức năng một, như từng miếng bánh vụn rải cho đám bồ câu ngu ngốc.

Lời ca câu hát, ca dao, tục ngữ, tất cả những thứ được dùng để gọi là sảng phẩm của văn hóa, của trí khôn dân gian dường như đã bị ngăn cản bởi công nghệ và trở thành một thứ không thể được tạo ra, dù là ở thành phố hoa lệ hay những nơi người ta cứ hay nghĩ là nguồn gốc của những câu hò câu ca câu nói bay bổng hàm ý bao hàm quy tắc chung của cả thế giới, nông thôn. Sự nhanh chóng tức thì làm chúng ta bỏ qua cái hay nhất của ngôn ngữ. Sự tuyệt vời của công nghệ làm ta quăng đi khả năng sáng tạo với khiếu trừu tượng của con người. Một con người thực tiễn và thực sự có khả năng lại thường nhớ tới những câu nói slogan gắn liền với những hình ảnh được dùng để miêu tả hàm ý châm biếm hay dụng ý hữu hình tỏ vẻ ấn sâu sau đấy, người ta vẫn gọi là meme. Chúng ta hiếm khi nào thấy một xã hội nào đó mà không có gì để lại cho hậu bối để trầm trồ. Phong trào thơ mới của Việt Nam có lẽ là chữ “mới” sau cùng trong thời đại số, các tác phẩm văn chương lai tạp cấu trúc và ý niệm tây hóa, sự cách tân cấu trúc tiến đánh những giá trị cổ, nhuộm màu gớm guốc với những khủng hoảng chồng khủng hoảng của cả đời sống cá nhân và cả đời sống chính trị của nhân dân. Một phong trào thơ mới là không thể có khi từ lâu nguồn cảm hứng thường xuyên bị làm phiền bởi “cơm áo gạo tiền” và những tin nhắn liền tay và những lá thư “ăn liền”.

Con người trong thời kỳ hậu tư bản, khi giới tư bản phải trì hoãn sự khánh kiệt tài nguyên bằng nguồn tái tạo được, ước vọng biến hư vô thằng nhiên liệu và những thành phố không cần tới đất màu mỡ vẫn có rau ăn, khi nhân lực của một xứ sở không đủ rẻ để làm giàu nhưng những khu ổ chuột thì thật đông những số phận bị đính giá rác rưởi, chúng ta thật sự mong cầu sự tiện lợi và giá trị của sự chuyên nghiệp hóa và ý nghĩa của nó định hình ý nghĩa sản phẩm của bất kỳ công nghệ nào theo sau đã giết chết văn hóa và nhân văn. Văn hóa của tư bản là văn hóa hút trọn sức lực của những người xung quanh để thúc đẩy sự luân chuyển hàng hóa. Văn hóa sinh ra từ thương nghiệp mà không phải là từ sự đa dạng hóa tự phát của dân gian, cãi rễ bén ra và liên kết con người ở mức căn bản nhất – tâm hồn – hô quéo trước lý luận về khả năng kiếm nhiều tiền hơn, tiết kiệm nhiều thời gian hơn, hơn là đi học, được đắm mình trong suy tưởng và khả năng tạo ra điều mới mẻ từ ngôn ngữ. Văn hóa của những người không thuộc hệ thống niềm tin xã hội căn bản là phải nhanh, căn lề chuẩn mực như một cái máy làm tiền và diện trên người bộ suit bảnh bao, dịch vụ phải liền tay, kể cả là cơm mẹ nấu cũng phải thế, ngon-nhanh-theo yêu cầu-không hỏi phiền. Một xã hội người gia bị cho là quái gỡ không phải là lạ, nó sẽ là lạ nếu người trẻ không nghĩ thế. Tuy nhiên, sự ép buộc tất cả những khuông khổ công nghiệp này vào đời sống phi công nghiệp – nuôi dưỡng con cái, đi chơi với gia đình, một tách cà phê với bạn, một câu chuyện tình đẹp – đều dẫn tới cả vùng trời này là một nhà máy.

“Tôi yêu cầu anh làm nhanh để tôi quay trở lại công việc, chuyện riêng của tôi càng nhanh càng tốt. Tiền đây và ngậm mồm lại!”

Thi vị, cái hồn đâu, bác Hạo ơi?

Thành Đạt

Chia sẻ

Bình Luận