Nền dân chủ Ấn Độ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhiều khía cạnh

Nhìn từ bên ngoài thì dường như nền dân chủ Ấn Độ rất khó có thể duy trì được các thiết chế dân chủ một cách dài lâu. Với số dân gần 01 tỷ vào cuối thế kỷ XX và lại bị phân hoá, chia rẽ theo nhiều kiểu hơn bất cứ một quốc gia nào khác trên thế giới. Nguyên nhân chia rẽ bao gồm ngôn ngữ, đẳng cấp, giai cấp, tôn giáo và lãnh địa -và mỗi nhóm lại chia thành vô vàn tiểu nhóm khác nhau nữa.

Ấn Độ không có ngôn ngữ dân tộc. Hiến pháp Ấn Độ chính thức công nhận 15 ngôn ngữ. Nhưng ngay cả như thế nó vẫn chưa nói hết được sự nghiêm trọng của vấn để ngôn ngữ: ít nhất có một triệu người Ấn Độ nói một trong 35 ngôn ngữ khác nhau… Hơn thế nữa, người Ấn Độ nói hơn 22 ngàn phương ngữ khác nhau…

Mặc dù hơn 80% người dân theo Ấn giáo (số còn lại theo Hồi giáo, mặc dù có một bang, bang Kerala, lại chủ yếu là người Thiên Chúa giáo), nhưng các hiệu ứng có tỉnh đoàn kết, thống nhất của Ấn Độ giáo lại bị suy giảm nghiêm trọng bởi chính hệ thống đẳng cấp do Ấn Độ giáo dựng lên cho người Ấn Độ từ khoảng 1.500 năm trước Công lịch. Tương tụ như ngôn ngữ, hệ thống đẳng cấp cũng là nguyên nhân chia rẻ bất tận.

Ấn Độ là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Từ năm 1981 đến năm 1995 gần một nửa dân số Ấn Độ có mức sống tương đương với dưới một dollar Mỹ một ngày. Theo tiêu chỉ này, chỉ có bốn nước nghèo hơn Ấn Độ. Trong những năm 1993 … 1994, hơn một phần ba dân chúng Ấn Độ … tức là hơn 300 triệu người, đa số là nông dân, sống trong các ìàng nhỏ ~dược chính thức coi là sống trong mức nghèo khổ. Năm 1996, theo chỉ số nghèo đói (Human Poverty Index), Ấn Độ đứng thứ 47 trong số 78 nước đang phát triển, chỉ trên Rwanda (xếp thứ 48) có một bậc. Ngoài ra, gần một nửa người Ấn Độ trên 15 tuổi và hơn 60% phụ nữ trên 6 tuổi không biết đọc biết viết.

Mặc dù Ấn Độ giành độc lập từ năm 1947 và thông qua dân chủ 1950, dựa vào những điều kiện đã mô tả bên trên, sẽ không ai lấy làm ngạc nhiên nếu thực tiễn chính trị Ấn Độ có những khiếm khuyết nghiêm trọng, đấy là nói xét từ quan điểm dân chủ. Các nhà doanh nghiệp coi Ấn Độ là một trong 10 nước tham nhũng nhất thế giới. Tệ hơn nữa, năm 1975 các thiết chế dân chủ bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ độc tài, đấy là khi thủ tướng Indira Gandhi[1] tổ chức đào chính, tuyên bố tình trạng khẩn cấp, đình chỉ các quyên dân sự và bỏ tù hàng ngàn người đối lập có tiếng tăm. Nhưng đa số người Ấn Độ, trong hầu hết thời gian, vẫn ủng hộ những thiết chế dân chủ. Nhưng chỉ hai năm sau khi Indira Gandhi cướp được chính quyền, bà đã bị phế truất trong một cuộc bầu cử khá công bằng -một kết quả không thể có nếu cử tri không phải là những người am hiểu về dân chủ.

Không chỉ giới tinh hoa chính trị, mà nói chung dân chúng Ấn Độ dường như đã gắn bó với những thiết chế dân chủ và thực hành dân chủ nhiều hơn là Indira Gandhi tưởng và họ đã không cho bà ta cai trị bằng những biện pháp độc tài.  Mặc dù đời sống chính trị Ấn Độ rất hỗn loạn và thường có tính bạo động, nhưng dù sao những thiết chế dân chủ cơ bản với tất cả những ưu khuyết điểm của nó vẫn tiếp tục hoạt động. Lời nhận xét này dường như làm lung lay tất cả mọi dự đoán theo lối duy lý. Giải thích chuyện này như thế nào? Bất kì câu trả lời nào cho câu để mà người Ấn Độ đặt ra cũng đều là câu trả lời không chắc chắn. Dù có thể làm người ta ngạc nhiên, nhưng một số khía cạnh của đất nước Ấn Độ có thể giúp chúng ta lý giải được sự xoay sở của Ấn Độ trong việc duy trì các thiết chế dân chủ.  Trước hết, một vài điều kiện thuận lợi của Ấn Độ trong việc xây dựng nền dân chủ chính là được sinh ra từ thuộc địa cũ của Anh, lực lượng vũ trang Ấn Độ có thói quen và vẫn giữ được quy tắc tuân thủ các lãnh tụ dân sự được bầu. Do đó, Ấn Độ đã thoát được mối đe dọa nghiêm trọng cho chính phủ dân chủ thường thấy ở phần lớn các nước đang phát triển. Khác với các nước Mỹ Latin, truyền thông của quân đội Ấn Độ rất ít khi ứng hộ cho các cuộc đảo chính quân sự hay chế độ độc tài quân sự. Cảnh sát, mặc dù có hiện tượng tham nhũng tràn lan, nhưng không phải là lực lượng chính trị độc lập, đủ sức làm đảo chính… Ngoài ra, những người lập nên nhà nước Ấn Độ hiện đại, tức là những người dẫn dắt Ấn Độ đến nền độc lập, giúp định hình hiến pháp và các thiết chế chính trị của quốc gia, đến là những người tin tưởng vào chế độ dân chủ.

các vấn đề của nền dân chủ Ấn Độ
Ấn Độ là nơi thường xuyên xảy ra các vụ bạo động đẫm máu bởi xung đột tàng lớp, giai cấp, tôn giáo và sắc tộc.

Nền dân chủ Ấn Độ, nền dân chủ được thừa hưởng từ nền dân chủ Anh

Những phong trào mà họ lãnh đạo đều ủng hộ mạnh mẽ cho các ý tưởng và thiết chế dân chủ. Có thể nói chế độ dân chủ là ý thức hệ dân tộc của Ấn Độ. Không có ý thức hệ nào khác. Như tinh thần quốc gia của Ấn Độ thì nó có thể là yếu, nhưng nước này gắn bó mật thiết với tư tưởng và niềm tin dân chủ đến mức rất ít người Ấn Độ ủng hộ phương án phi dân chủ.  Hơn nữa, dù Ấn Độ là nước đa dạng về văn hoá nhưng đây là nước duy nhất trên thế giới, nơi niềm tin và thực hành Ấn giáo lan truyền rộng khắp đến như thế. Cứ mười người thi có tám người là tín đồ Ấn giáo. Mặc dù hệ thống đẳng cấp là hệ thống gây chia rẽ và những người dân tộc chủ nghĩa theo Ấn giáo là mối đe dọa đối với những người thiểu số theo Hồi giáo, nhưng Ấn giáo đúng là đã tạo ra một cái gì đó có ý nghĩa như bản sắc chung cho đa số người Ấn Độ.  Nhưng ngay cả khi những điều kiện này có cổ vũ cho các thiết chế dân chủ thì cảnh nghèo đói tràn lan cùng với sự chia rẽ gay gắt của tình trạng đa văn hoá vẫn sẽ có thể là mảnh đất tốt cho sự bộc phát của những phong trào bài dân chủ, đủ sức lật nhào chế độ dân chủ rồi dựng lên chế độ độc tài. Nhưng tại sao chuyện đó lại không xảy ra? Xem xét một cách kĩ lưỡng hơn sẽ cho thấy một vài điều thú vị  Thứ nhất, mỗi người Ấn Độ đến là thành viên của một nhóm thiểu số về mặt văn hoá, nhỏ đến mức họ không thế quản trị Ẩn Độ một mình.  Việc Ấn Độ bị chia cắt thành hàng ngàn sa số mảnh vụn văn hoá như thế có nghĩa là mỗi mảnh đều nhỏ. nhỏ đến mức không chỉ không thể trở thành đa số mà còn nhỏ đến mức không thế nào quản trị hối cái tiểu lục địa to lớn và đa dạng đến như vậy. Không một cộng đồng thiểu số Ấn Độ nào có thể quản trị mà không phải dùng tới bạo lực của quân đội và cảnh sát một cách tràn lan.

Nhưng, như chúng ta đã nhận xét. quân đội và cảnh sát không sẵn sàng làm những việc như thế.  Thứ hai, trừ một vài ngoại lệ, các thành viên của một nhóm thiểu số về mặt văn hoá không sống cùng nhau trong một khu vực duy nhất, mà có xu hướng trải ra trong nhiều khu vực khác nhau của Ấn Độ. Hệ quả là, phần lớn các cộng đồng thiểu số đó không thể hi vọng tách ra thành một nước riêng biệt bên ngoài biên giới lãnh thổ Ấn Độ Dù muốn dù không, số phận của đa phần người dân Ấn Độ đã được an bài: vĩnh viên là công dân Ấn Độ… Vì ly khai là bất khả thì nên giải pháp duy nhất còn lại phải là thống nhất, cùng ở trong một Ấn Độ.  Cuối cùng, đa phần người Ấn Độ cho rằng trên thực tế không thể có lựa chọn nào khác có thể thay thế được cho chế độ dân chủ. Tự mình, không một nhóm thiểu số Ấn Độ nào có thể lật đổ được các thiết chế dân chủ và thiết lập được chế độ độc tài, và họ cũng không hi vọng quân đội và cảnh sát sẽ giúp họ duy trì một chính quyền độc tài hay hi vọng thành lập một nhà nước riêng biệt hoặc đưa được ra các phương án về thiết chế và tư tưởng đủ sức hấp dẫn hơn chế độ dân chủ. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng bất cứ một liên minh đáng kể nào từ những nhóm thiểu số khác nhau cũng sẽ đều chia rẽ tới mức: không thể chiếm được chính quyền, chứ chưa nói tới việc duy trì chính phủ độc tài. Vì vậy, chế độ dân chủ đã tỏ ra là lựa chọn khả dĩ duy nhất đối với đa số người Ấn Độ[2].

Câu chuyện đầy đủ về chế độ dân chủ ở Ấn Độ phức tạp hơn nhiều, chuyện đầy đủ về bất kì nước nào cũng đều như thể cả. Ấn là ở một nước nếu thiếu một hoặc một vài, chứ không phải là thiếu hết cả năm điều kiện thuận lợi cho chế độ dân chủ thì chế độ dân chủ là khá bấp bênh, có thể rất khó khăn nhưng không nhất thiết là không thể xây dựng được.

tôn giáo và nên dân chủ Ấn Độ
Sự phân biệt và kì thị đẳng cấp của Hindu Giáo là nguồn gốc căn bản cho mọi sự bất công cũng như là nguy cơ làm sụp đổ nền dân chủ không bền vững tại Ấn Độ.

Ghi chú

[1] Sau khi thất cử vào năm 1977, Indira Gandhi lại được bầu làm thủ tướng vào năm 1980. Năm 1984 bà hạ lệnh tấn công đền thờ Hồi giáo linh thiêng nhất ở Ấn Độ, lúc đó đang bị nhóm giáo phái người Sikh chiếm giữ. Không lâu sau, bà đã bị hai vệ sĩ người Sikh sát hại. Người Hindu tức giận và đã giết chết hàng ngàn người Sikh. Năm 1987, Rajiv Gandhi (con trai của Indira Gandhi), lúc đó đang làm thủ tướng đàn áp phong trào đòi độc lập của người thiểu số Tamil. Năm 1991, ông bị người Tamil sát hại.

[2] Điều này không đúng nếu các thành viên của thiểu số văn hóa khác biệt sống cùng với nhau trong một khu vực trên đường biên gìởi của Ấn Độ. Có một vài dân tộc thiểu số như thể, nổi bật nhất là người Kashmiris. Những cố gắng đòì độc tập của họ đã bị lực lượng quân sự của chính phủ Ấn Độ đánh tan.
Có thể bạn quan tâm:

Sách khuyên nên đọc:

  • Bàn về dân chủ, Rober A. Dahl (nguồn bài viết), NXB Giấy Vụn, đã đóng cửa.
  • United Nations Development Programme, Human Development Report (New York, Oxford University Press, 1997)
  • India FiveDecades of Progess and Pain, New York Times, 14/7/1997.
  • India’s Odd, Enduring Patchwork, New York Time, 8/8/1997
Chia sẻ

Bình Luận