Mỹ tiến hành phong tỏa tài sản chế độ Việt Nam Cộng Hòa và bắt đầu áp đặt cấm vận lên Việt Nam

Ngay sau khi chiến tranh Việt – Mỹ kết thúc, chính phủ Hoa Kì đã tiến hành phongtỏa tài sản của chế độ Sài Gòn cũ trên lãnh thổ Hoa Kì; ngày 15.5.1975, Washington tuyên bố cấm vận thương mại, phủ quyết việc Việt Nam xin gia nhập LHQ… Mặt khác, chính phủ Hoa Kì vẫn để ngỏ khả năng cải thiện quan hệ với Việt Nam. Washington tuyên bố không công nhận bất kì chính phủ lưu vong nào của Việt Nam, nhiều lần gửi thông điệp  cho chính phủ Việt Nam xác định rằng Hoa Kì không thù địch với Việt Nam, tỏ ý sẵn sàng nói chuyện với Việt Nam về quan hệ hai nước [Xem thêm Anatôli Đôbrưnhin. Đặc biệt tin cậy. NXB CTQG, Hà Nội, 2001, tr.599-601; Hồi kí của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ], không chống Việt Nam gia nhập Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Khí tượng thế giới, cấp thị thực cho các đoàn Việt Nam dự các phiên họp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) được tổ chức ở Mỹ.Động thái này của chính phủ Mĩ không phải là điều khó hiểu. Sau thất bại nặng nề ở Việt Nam, Mĩ buộc phải giảm dần sự hiện diện ở Đông Nam Á, song lại lo sợ việc làm này sẽ tạo ra “khoảng trống” (vacuum), mà các đối thủ hàng đầu là Trung Quốc (nước vẫn luôn tìm cách tăng cường vị thế ở Đông Nam Á sau khi đảng Cộng sản kiểm soát toàn bộ Hoa lục) và Liên Xô (vốn được Mĩ đánh giá là đồng minh của Việt Nam) sẽ khai thác theo hướng bất lợi cho Hoa Kì. Do vậy, Mĩ một mặt tìm cách khai thác mâu thuẫn Xô-Trung, vừa muốn có một Việt Nam giữ được vị thế độc lập trong quan hệ với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc.

Chính phủ VNDCCH cũng sớm xác định lập trường đối với việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Tháng 9.1975, thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố rằng Việt Nam sẵn sàng thiết lập các quan hệ bình thường với Mỹ trên cơ sở của Hiệp định Paris. Đối với Việt Nam, điều này có nghĩa là người Mĩ cần thực hiện lời hứa mà tổng thống R. Nixon đã đưa ra trong bức thư đề ngày 1.2.1973 gửi Phạm Văn Đồng về việc Mỹ sẽ cung cấp khoản viện trợ trị giá3, 250 tỉ USD để góp phần vào nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh mà không kèm theo bất kì điều kiện chính trị nào, cộng với các hình thức viện trợ khác sẽ được hai bên thỏa thuận sau. Về phần mình, ngày 26.3.1976, bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì Henry Kissinger đưa ra những điều kiện cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước: (1) cho biết rõ về những quân nhân Mỹ bị mất tích trong khi chiến đấu (MIA); (2) “Sự cần thiết về việc Hà Nội đảm bảo những ý định hòa bình đối với các nước láng giềng Đông Nam Á”. Như vậy, ngay từ đầu, cả Hà Nội và Washington đều đã xác định rõ những điều kiện tiên quyết cho việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Mỹ gỡ bõ cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ Việt Nam
Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Cliton là người có công rất lớn đối với việc gỡ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam.

Một trở ngại khác cho tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước là trong cuộc vận động bầu cử năm 1976, tổng thống Ford đã dựa vào sự ủng hộ của phái hữu coi vấn đề MIA là điều kiện chính, và vì lẽ này ông đã ra lệnh phủ quyết việc Việt Nam trở thành thành viên của LHQ tháng 11.1976. Tuy nhiên, người chiến thắng lại là Jimmy Carter, một nhân vật cho rằng cách tốt nhất để xóa tan “hội chứng Việt Nam” là hòa giải với chính phủ Hà Nội. Ngay trước khi nhậm chức, Carter đã thông qua chính phủ Liên Xô chuyển đến chính phủ Việt Nam đề nghị một kế hoạch bình thường hóa gồm ba điểm: (1) Việt Nam thông báo về người Mĩ bị mất tích trong chiến tranh; (2) Hoa Kì chấp nhận Việt Nam vào LHQ và sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ cũng như bắt đầu buôn bán với Việt Nam; (3) Hoa Kì có thể đóng góp vào tiến trình khôi phục Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, cung cấp thiết bị và các hình thức hợp tác khác.

Tháng 3.1977, Chính phủ Carter đã cử một phái đoàn mang tên “Ủy ban của tổng  thống về những người mất tích ở Đông Nam Á” do Leonard Woodcock, chủ nghiệp đoàn công nhân ôtô và là người phản đối chiến tranh Việt Nam, dẫn đầu sang thăm Việt Nam, sau khi quyết định nới lỏng một phần cấm vận đối với Việt Nam: tàu thủy và máy bay nước khác chở hàng sang Việt Nam được ghé các cảng và sân bay của Mĩ để lấy nhiên liệu.

Tiếp theo chuyến đi trên, Việt Nam và Hoa Kì đã tổ chức trong năm 1977 các vòng đàm phán ở Paris (3-4.5.1977; 2-3.6.1977 và 19-20.12.1977) và một vòng đàm phán ở New York để bàn về vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Trong tiến trình đàm phán, phía Mỹ đề nghị bình thường hóa quan hệ không điều kiện và trong khi chờ đợi quan hệ được bình thường hóa, hai nước sẽ lập phòng liên lạc ở Hà Nội và Washington. Về phần mình, phái đoàn Việt Nam đã đòi Mĩ giải quyết cùng lúc ba vấn đề: hai nước bình thường hóa ( bao gồm cả bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), Mĩ viện trợ cho Việt Nam 3,25 tỉ USD như đã hứa, Việt Nam giúp Mĩ giải quyết vấn đề MIA. Phái đoàn Việt Nam đặc biệt kiên trì nêu vấn đề Hoa Kì đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc tái thiết sau chiến tranh ở Việt Nam, nhưng không tán thành việc lập văn phòng liên lạc ở thủ đô hai nước.

Chính phủ Việt Nam đã sớm xác lập lập trường về vấn đề bồi thường chiến tranh qua lời phát biểu ngày 26.3.1976 của thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền , ngườisẽ được giao chức trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam . Ông nói rõ: “Việt-Mĩ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam là một nghĩa vụ không thể chối cãi , xét về mặt pháp lí của Hiệp định Paris về Việt Nam, về mặt pháp lí quốc tế cũng như đạo lí và lương tri của con người”.Phái đoàn Mỹ cho rằng phía Việt Nam đã vi phạm nhiều điều khoản của Hiệp định  Paris, nên văn kiện này vô hiệu đối với Mỹ. Không bằng lòng với lập luận của Mỹ, trưởng phái đoàn Việt Nam là Phan Hiền đã công bố bức thư của Nixon liên quan đến tiền viện trợ tái thiết.

Quốc hội Hoa Kì đã phản ứng ngay lập tức trước diễn biến này: ngày 4.5.1977, giữa lúc vòng đầu đang diễn ra ở Paris, Hạ viện Mỹ đã bằng 266 phiếu thuận, 191 phiếu chống thông qua khoản sửa đổi dự luật về viện trợ, theo đó chính phủ Mỹ bị cấm không được thảo luận với Việt Nam ngay cả vấn đề viện trợ kinh tế. Phản ứng của cơ quan lập pháp Hoa Kì kiên quyết đến mức ngày 14.6, chỉ hơn 10 ngày sau vòng đàm phán Việt-Mỹ thứ hai cũng tại Paris, Thượng viện Mỹ bằng 58 phiếu thuận, 30 phiếu chống đã thông qua khoản sửa đổi trong dự luật viện trợ 5,2 tỉ USD cho các nước đang phát triển thông qua các định chế tài chính quốc tế như IMF, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á. Khoản sửa đổi cấm đại diện Mỹ trong các tổ chức tài chính này bỏ phiếu cho các khoản tiền cho Việt Nam và Lào vay. Dù Capitol đã tỏ rõ thái độ cứng rắn đối với Việt Nam, Nhà trắng vẫn cố tiếp tục đưa ra một cử chỉ hòa giải: ngày 20.9.1977, Hoa Kì đã bỏ phiếu thuận cho việc kết nạp Việt Nam vào LHQ.

Tuy nhiên, vòng đàm phán thứ ba diễn ra tại Paris trong các ngày 19 – 20.12.1977 vẫn không đem lại một chút tiến bộ nào.Về vòng 3 , vụ trưởng vụ Bắc Mĩ Trần Quang Cơ thuật lại như sau trong Hồi kí:“Trước đòi hỏi kiên quyết của ta [hai bên giải quyết trọn gói cả ba vấn đề mà phía Việt Nam đã nêu ra] tại vòng 3 , Mĩ đề nghị nếu chưa thỏa thuận được về việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ thì có thể lập Phòng quyền lợi ở thủ đô hai nước, nhưng như vậy thì chưa bỏ cấm vận được . Sau khi có Phòng quyền lợi , thì sẽ tuỳ tình hình mà xét bỏ cấm vận , song ta vẫn giữ lập trường cứng nhắc đòi giải quyết cả gói ba vấn đề. Rõ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Ngoại trưởng Mĩ C. Vance ngày 10.1.1977 tuyên bố : “Việc tiến đến bình thường hoá quan hệ Mĩ-Việt Nam phù hợp với lợi ích của hai nước”. Năm 1977 đã có khả năng thực tế để ta bình thường hoá quan hệ với Mĩ nhưng ta đã bỏ qua. Trong khi đó, theo sự xúi giục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot tiến hành chiến tranh biên giới chống ta từ ngày 30.4.1977 và đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.1977”.Vòng đàm phán thứ tư được dự kiến vào tháng 2.1978 đã không diễn ra do bị Mỹ đơn phương hủy bỏ, sau khi đại sứ Việt Nam tại LHQ bị bộ Ngoại giao Mỹ cáo giác làm gián điệp và sau đó bị trục xuất.

Ngày 11.7.1978, thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền, người cầm đầu phái đoàn Việt Nam trong ba vòng đàm phán Việt-Mỹ được đề cập ở trên, tuyên bố ở Tokyo rằng Việt Nam sẽ bỏ tất cả những điều kiện tiên quyết cho việc bình thường hóa với Hoa Kì và muốn có một vòng đàm phán mới với Mỹ vào tháng sau. Sự thay đổi quan trọng này tỏ cho thấy Việt Nam rất mong muốn sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Phía Mỹ đề nghị địa điểm đàm phán kế tiếp là tại New York.
(Còn tiếp)

 

 

Chia sẻ

Bình Luận