Mỹ rút quân khỏi Afghanistan, sự kiện được lặp lại như Mỹ đã từng làm tại miền Nam Việt Nam

Viễn cảnh chấm dứt cuộc xung đột và Mỹ rút quân khỏi Afghanistan đã khiến nhiều chuyên gia chính sách đối ngoại của Mỹsuy ngẫm về kết luận bất minh của một cuộc chiến khác-cuộc chiến tại Việt Nam. Đã gần nửa thế kỉ trôi qua, Việt Nam đã đưa ra một câu chuyện cảnh báo cho một số quan chức Lầu Năm Góc, những người lo lắng về việc làm sống lại những sự kiện tồi tệ năm 1975, khi Bắc Việt và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam (NLF) hành quân tiến vào Sài Gòn và những người Mỹ cuối cùng, cùng với một số đồng minh miền Nam Việt Nam, đấu tranh điên cuồng trốn thoát bằng trực thăng. Cựu Đại sứ Mỹ tại Afghanistan Ryan Crocker và những người khác lo lắng về hậu quả nhân đạo và địa chính trị của việc rút quân khỏi Afghanistan và cảnh báo về một hiện tượng tương tự như ở Việt Nam, khi Mỹ rút lui khỏi Việt Nam. Họ dường như sợ một hội chứng Afghanistan, giống như Hội chứng Việt Nam đã từng tồn tại trước đó, điều đó có thể làm tê liệt khả năng can thiệp quân sự của Hoa Kỳ.

 Cuộc chiến ở Việt Nam tương tự như cuộc chiến ở Afghanistan như thế nào, và kết thúc của chúng có thể giống nhau đến mức nào? Hậu quả của việc rút quân của Mỹ đối với người Afghanistan và người Mỹ có thể rút ra bài học gì từ Việt Nam để giảm thiểu chúng?

Việt Nam và Afghanistan đều là những nghĩa địa của các đế chế, những quốc gia có uy tín. Các cuộc chiến tranh của Mỹ ở cả hai quốc gia là những cuộc xung đột lớn hơn trên toàn cầu: Việt Nam là một mặt trận Chiến tranh Lạnh và Afghanistan là một mặt trận trong cuộc chiến chống khủng bố của cựu Tổng thống MỹGeorge W. Bush. Trong cả hai trường hợp, các lực lượng nổi dậy địa phương chống Mỹ tầm nhìn dài, quyết tâm chờ đợi kẻ thù siêu cường của họ. Người Mỹ có những chiếc đồng hồ tuyệt đỉnh còn Taliban thì lại có rất nhiều thời gian để chống lại Mỹ.

 Mỹ và Bắc Việt Nam đã đàm phán dàn xếp hòa bình năm 1973 trực tiếp với nhau, bỏ qua các đồng minh của họ là chính phủ Nam Việt Nam và NLF. Tại Afghanistan, Mỹ hiện đang đàm phán trực tiếp với Taliban, làm lơ đi đồng minh của mình, chính phủ của Tổng thống Ashraf Ghani. Đồng minh của Mỹ ở Kabul, giống như đồng minh của họ ở miền Nam Việt Nam, chỉ kiểm soát một phần lãnh thổ của mình, lãnh đạo yếu kém và bị ảnh hưởng bởi rối loạn chức năng chính trị và chính phủ cũng như tham nhũng tràn lan. Quân đội Afghanistan, giống như đối tác Nam Việt Nam, phụ thuộc vào viện trợ và hỗ trợ tài chính của Hoa Kỳ. Và cũng giống như ở Việt Nam, thời điểm rút quân của Mỹ là một yếu tố thiết yếu của bất kỳ thỏa thuận nào. Bây giờ, khi đó, các quan chức Mỹ tìm kiếm một khoảng thời gian phù hợp, một cụm từ do Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ Richard Nixon sinh ra để nói vềsự ra đi của Mỹ và sự sụp đổ của chính phủ đồng minh.

Hai cuộc chiến cũng rất giống nhau, bắt đầu với quy mô hoàn toàn không thể so sánh được. Quân đội Mỹ tại Việt Nam đạt đỉnh hơn một nửa triệu, trong đó hơn 58.000 người đã thiệt mạng. Mỹ đã cam kết chỉ một phần năm lực lượng cho Afghanistan và đã mất ít hơn 3.000. Bắc Việt là một kẻ thù đáng gờm với một trong những đội quân lớn nhất thế giới và sự hỗ trợ bên ngoài đáng kể từ khối Xô Viết và Trung Quốc. Kẻ thù của Mỹ ở Afghanistan chủ yếu là quân nổi dậy Taliban, một lực lượng quân sự nhỏ hơn nhiều do Pakistan hậu thuẫn. Không có sự cạnh tranh quyền lực lớn làm tăng thêm sự phức tạp hoặc chi phí cho cuộc chiến Afghanistan.

Cuộc chiến ở Việt Nam đã gây ra một sự phản đối kịch liệt tại quê nhà. Vào thời điểm các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris bắt đầu một cách nghiêm túc vào năm 1972, áp lực trong nước khiến Nixon và Kissinger- nhà đàm phán chính của ông, có ít lựa chọn trên bàn đàm phán nhưng phải giải quyết nhanh chóng để có những điều khoản tốt nhất có thể. Một phần vì sự rạn nứt của Việt Nam mở ra trong kết cấu xã hội Mỹ, còn quân đội đang chiến đấu tại Afghanistan là những quân nhân tình nguyện, quy mô ít hơn rất nhiều và mức thương vong ở mức thấp. Không hề có thuế chiến tranh để gây phẫn nộ cho công chúng, không có các cuộc biểu tình trên đường phố cho những người ra quyết định rầm rộ. Các phương tiện truyền thông đã được giới hạn và tăng cường. Các cuộc thăm dò cho thấy phần lớn người Mỹ cho rằng chiến tranh là một sai lầm, nghi ngờ rằng tiến trình đang được thực hiện và muốn thoát ra. Nhưng không giống như Việt Nam, cuộc chiến hiện tại đã không làm dấy lên sự phản đối đủ mạnh để buộc thảo luận về việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan.

Mỹ rút quân khỏi Afghanistan vì Tổng Thống Trum muốn kết thúc những cuộc chiến tốn kém

Điều kỳ lạ là động lực chính để Mỹ rút quân khỏi Afghanistan không phải đến từ những nhà tư tưởng chiến lược hay những người phản đối mà là từ một giám đốc điều hành là một người mới biết chính sách đối ngoại và thường cư xử khá thất thường. Là một ứng cử viên cho chức tổng thống Hoa Kỳ, Donald Trump bày tỏ lo ngại về các cuộc chiến tốn kém, không bao giờ kết thúc, như cuộc chiến ở Afghanistan và tuyên bố sẽ chấm dứt chúng. Khi ông nhậm chức, các cố vấn của ông đã thuyết phục ông cho phép một sự gia tăng nhỏ trong quân đội Mỹ thay thế. Giờ đây, với sự ra đi của các nhân vật thành lập như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ HR McMaster và cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, Trump đã một lần nữa đặt ra những vấn đề đưa quốc gia khỏi những cuộc chiến bất tận này và mang binh sĩ Mỹ về. Các cơ sở chính sách đối ngoại và một số thượng nghị sĩ diều hâu khác, như Lindsey Graham, đảng viên Cộng hòa từ Nam Carolina, đã tìm cách cản trở hoặc ít nhất là trì hoãn các kế hoạch của tổng thống và duy trì cam kết ở Afghanistan.

Sự kết thúc tồi tệ của cuộc chiến ở Việt Nam ám ảnh cuộc thảo luận này. Nhiều người Mỹ lưu giữ những hình ảnh không thể xóa nhòa về cuộc tấn công tàn khốc cuối cùng của miền Nam Việt Nam, sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn và quân đội, và những nỗ lực tuyệt vọng, muộn màng của người Mỹ và Nam Việt Nam để thoát khỏi cuộc tấn công dữ dội từ Bắc Việt. Đối với một quốc gia đã quen với chiến thắng trong chiến tranh, những ký ức như vậy là đau đớn. Việc rút quân khỏi Afghanistan có giống Việt Nam và có hậu quả tương tự đối với người Afghanistan và người Mỹ không?

Tại thời điểm này, các chi tiết của thỏa thuận theo đàm phán là không đáng lo ngại. Taliban đang tìm cách buộc quân đội Mỹ rút quân khỏi Afghanistan càng sớm càng tốt. Mỹ thì đang ủng hộ một quá trình có thể mất đến ba năm. Các nhà đàm phán Mỹ tìm kiếm sự bảo đảm từ Taliban rằng những kẻ khủng bố sẽ không sử dụng lãnh thổ Afghanistan nữa làm căn cứ để tấn công Hoa Kỳ. Không có cách nào để đảm bảo Taliban sẽ giữ lời cam kết như vậy, nhưng nhóm này dường như có mối quan tâm riêng về al Qaeda và Nhà nước Hồi giáo (còn gọi là ISIS), cả hai đều có các tổ chức rải rác khắp Afghanistan và có thể tìm cách cắt giảm các hoạt động của họ vì lý do riêng của nó. Thỏa thuận này bao gồm một điều khoản cho lệnh ngừng bắn, có khả năng sẽ chỉ được duy trì miễn là các bên khác nhau ở Afghanistan muốn điều đó có thể không lâu. Tại Việt Nam, chính quyền Sài Gòn đã ngừng bắn trước khi thực hiện về những thỏa thuận trong Hiệp định Paris năm 1973 và bị Bắc Việt phá hủy lệnh ngừng bắn.

Các chính trị gia có thể biết những gì sẽ xảy ra khi Mỹ rút quân khỏi Afghanistan. Một khả năng là đất nước sẽ trở lại một quốc gia do Taliban thống trị và một nhóm các dân tộc và lãnh chúa, giống như trước năm 2001. Như Bắc Việt Nam đã làm ở miền Nam sau năm 1975, một chính phủ Taliban có thể cố gắng áp đặt ý thức hệ của mình lên một phần của Afghanistan mà nó kiểm soát, trong trường hợp này tái tạo một quốc gia Hồi giáo tương tự như quốc gia mà nó đã từng trước khi bị phế truất, với tất cả các hàm ý rõ ràng về quyền con người và đối xử với phụ nữ.

Mỹ rút quân khỏi Afghanistan sẽ như thế nào
Việc quân đội Mỹ rút quân và Nhà Trắng bỏ rơi miền Nam Việt Nam đã tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị và nhân đạo trầm trọng, kéo dài hơn 2 thập kỉ.

Bài học lịch sử khi Mỹ rút quân khỏi Afghanistan-miền Nam Việt Nam

Sử dụng sự tương tự lịch sử để thông báo các quyết định chính sách là khó khăn, nguy hiểm và tồi tệ nhất. Tuy nhiên, Việt Nam có thể cung cấp một số bài học hữu ích cho Afghanistan sau chiến tranh. Chẳng hạn, Nixon tự lừa dối mình khi nghĩ rằng lời hứa viện trợ kinh tế và mối đe dọa ném bom mới sẽ giúp ông răn đe Bắc Việt sau khi quân đội Mỹ rút lui. Trong thực tế, vụ bê bối Watergate và sự phản đối quyết liệt ở Quốc hội và trong đất nước đã cản trở Nixon tái can thiệp vào Việt Nam. Ngay cả khi không có Watergate, Nixon có thể sẽ không thể giành chiến thắng trước Bắc Việt Nam. Ở Afghanistan, tương tự, Mỹ sẽ có ít ảnh hưởng trên mặt đất sau khi nó rời đi. Việc đào tạo lại quân đội Afghanistan dường như rất khó khả thi; hầu hết các hoạt động người Mỹ có thể làm là tấn công các căn cứ khủng bố bằng bom và tên lửa, như đã từng làm ở Syria và các nơi khác.

Việt Nam cũng đã nhắc nhở nước Mỹ về những chi phí của suy nghĩ mơ ước trong giai đoạn cuối của chiến tranh. Vào mùa xuân năm 1975, Đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam Graham Martin đã một mực từ chối kế hoạch rút lui, vì sợ khuyến khích kẻ thù và làm nản lòng Nam Việt Nam một lập trường khiến cho sự ra đi của Mỹ sẽ biến miền nam trở nên hỗn loạn. Một cuộc rút quân yên tĩnh, được lên kế hoạch rõ ràng, có trật tự từ Afghanistan sẽ khác nhiều so với lối rút quân giống như Việt Nam trong tình trạng cực kỳ khó khăn.

Một bài học khác từ Việt Nam là tầm quan trọng của việc tham khảo ý kiến ​​với các đồng minh của Mỹ trước khi thực hiện. Nixon thông báo về việc rút quân của Mỹ khỏi Việt Nam chỉ vài giờ sau khi thông báo cho các đồng minh về quyết định này đã gặp phải sự phản đối sâu sắc một số chính phủ. Úc, đồng minh nhiệt tình nhất của Mỹ khi bắt đầu chiến tranh, đã đáp trả bằng cách rút quân khỏi Nam Việt Nam thậm chí còn nhanh hơn cả Hoa Kỳ. Chính quyền Trump nên tránh lặp lại sai lầm này. Các quan chức Mỹ cũng sẽ làm tốt để làm theo tấm gương dũng cảm của Tổng thống Mỹ Gerald Ford trong việc chào đón những người tị nạn Nam Việt Nam bằng cách cung cấp cho sự di cư của những người Afghanistan đã gắn bó chặt chẽ nhất với Mỹ một lần nữa, không phải là nhiệm vụ đơn giản, đặc biệt là hiện tại sự thù địch của chính quyền đối với nhập cư.

Bởi vì cuộc chiến ở Afghanistan phần lớn là vô hình đối với hầu hết người Mỹ, nên hiệu quả chính trị trong nước của việc rút quân có thể sẽ kém kịch tính hơn so với Việt Nam. Việc rút quân có thể ảnh hưởng về mặt chính trị trong nước là mở rộng sự rạn nứt nội tâm giữa những người theo chủ nghĩa dân tộc Trump và những người Cộng hòa chính thống và làm sắc nét sự mệt mỏi công khai vốn đã rõ ràng với những xung đột tốn kém và kéo dài ở nước ngoài. Một cuộc khảo sát do Eurasia Group Foundation thực hiện vào năm 2018 cho thấy phần lớn người Mỹ ủng hộ cách tiếp cận dân tộc hơn, ưu tiên các nhu cầu cấp bách tại quê nhà hơn các chiến dịch tốn kém để làm lại thế giới trong hình ảnh của Mỹ. Điều này thể hiện sự thay đổi thái độ khỏi sự chấp nhận của công chúng đối với chính sách can thiệp hơn vào sau ngày 9/11 và phơi bày một khoảng cách ngày càng lớn giữa quan điểm của công chúng và giới tinh hoa trong chính sách đối ngoại, một khoảng trống mà các nhà lãnh đạo sẽ phải giải quyết khi đóng khung chính sách trong tương lai.

Các lựa chọn của Mỹ ngày nay là những lựa chọn quen thuộc. Washington có thể leo thang với hy vọng chiến thắng trong cuộc chiến; nó có thể tồn tại như nó cho đến nay, mời gọi bế tắc kéo dài; hoặc nó có thể chấm dứt một liên doanh thất bại kéo dài 18 năm và chi phí dài hạn của họ có thể lên tới hàng nghìn tỷ đô la. Sự lựa chọn có vẻ hiển nhiên. Mỹ phải từ bỏ sự cố định của mình với sự trừu tượng, chẳng hạn như uy tín hoặc nỗi sợ xuất hiện yếu đuối, và hành động thay vào đó dựa trên ý nghĩa thông thường. Bài học lâu dài nhất về Việt Nam và Afghanistan, có thể là không có cách nào tốt để thoát khỏi một cuộc chiến tồi tệ ngoại trừ kết thúc triệt để nó.

Nguồn: Lessons From Vietnam on Leaving Afghanistan. There’s No Good Way to End a Bad War, but Some Options Are Worse Than Others By 

Bài viết có thể bạn quan tâm:

Mỹ rút quân khỏi Syria và ai sẽ là người thay thế tốt nhất?

Thảm họa chính trị ở Venezuela là cú sốc đối với toàn bộ Nam Mỹ

Chia sẻ

Bình Luận