Margaret Thatcher-“liều vắc-xin” giúp nước Anh thoát khỏi cơn dịch bệnh cộng sản (P1)

                                                                                                         _Scott E. Danis_

Sau Đệ nhị thế chiến Anh đã trải qua thời kỳ nắm quyền của đảng Lao Động thi hành quốc hữu hóa cơ sở sản xuất, biến nước Anh từ cái nôi của Chủ Nghĩa Tư Bản thành nền kinh tế tập trung duy nhất ngoài khối Cộng sản. Đến những năm 70s, nó bị xem là “Con bệnh của Châu Âu” (Sickman Of  The Europe). Margaret Thatcher, nữ Thủ tướng đến từ đảng Bảo Thủ vào cuộc bầu cử năm 1979 đã sửa đổi tất cả chỉ trong 11 năm. Bà là Thủ tướng tại vị lâu nhất và được tôn vinh là “Thủ tướng vĩ đại nhất kể từ thời Winston Churchill.”

Mô hình kinh tế thị trường tân tự do (Neo-Liberal) xuất hiện như thế nào ? Ai là người có ảnh hưởng đến mô hình kinh tế này? Tác giả tin rằng thị trường kinh tế tân tự do, là cách tốt nhất cho một nền kinh tế hoạt động, ảnh hưởng tư tưởng của Trường phái Áo, và chủ yếu là F. A. Hayek. Trong thế kỷ qua từ lâu đã có một cuộc tranh luận giữa Chủ nghĩa xã hội và Tư bản; giữa Keynes với những người ủng hộ thị trường tự do, ủng hộ những cách vận hành nền kinh tế một cách hiệu quả nhất. Những nguồn lực cần được phân bổ qua kế hoạch của chính phủ hay các hoạt động của thị trường tự do? Tác giả tin chắc rằng các mô hình tân tự do chứng tỏ bản thân nó có thể làm việc tốt nhất và sẽ cho thấy chính Bà Thatcher đã bị ảnh hưởng bởi những người đàn ông của trường phái kinh tế học Áo.

Nền tảng của mô hình kinh tế tân tự do ngày nay, chính là đầu não trong cuộc Cách mạng Thatcher, có thể được tìm thấy trong cả hai trường phái : kinh tế cổ điển Anh và các trường kinh tế Áo. Các trường phái kinh tế cổ điển Anh xưa và giàu truyền thống được sinh ra từ các tác phẩm giảng dạy của Adam Smith, cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Điều Smith viết trong cuốn sách của ông, Sự thịnh vượng của các quốc gia, là một hệ tư tưởng và phương pháp về chính sách kinh tế, nơi mà chính phủ bị cắt đứt một cánh tay và cho doanh nghiệp làm điều tốt nhất – doanh nghiệp tạo ra các doanh nghiệp mới và cho phép người tiêu dùng mua những gì họ khao khát; Điều này, Smith viết, chính là học thuyết kinh tế giảm can thiệp từ chính phủ. Trong cuốn sách của mình, ông đã viết rằng phương pháp của ông là một sự đột phá và “tiếp nối hợp lí với những thuyết trình về pháp luật dân sự và tự nhiên” trước đó của của chính ông. Đó là khái niệm của luật tự nhiên mà các nhà kinh tế khác như Rothbard và Hayek khẳng định họ đã viết dựa trên cuốn sách của ông Smith, như tác phẩm Rothbard : Con người , Kinh tế, và Nhà nước (Man, Economy, and State), cũng như là với một lịch sử tiến bộ của những con người đến và đi trong một xã hội văn minh. Rothbard chỉ là một trong các tổ phụ của trường phái kinh tế Áo, nhưng là một nhà kinh tế học ảnh hưởng không kém Smith. Smith nói về công việc của mình, cách “thương mại hóa và các nhà sản xuất dần xuất hiện do nhu cầu, sự quản lí tốt và cùng với đó, sự tự do và an ninh cá nhân.”

Phương pháp của A. Smith cũng là một kết quả của luật tự nhiên. Ông biết rằng trên tất cả của cải vật chất, con người mong muốn có tự do; nền kinh tế của xã hội văn minh sẽ cho phép điều đó thông qua việc tự hoàn thiện chính mình. Tự cải thiện sẽ dẫn đến sự tiến bộ từ trong bản thân mỗi người và cả xã hội, điều này bắt đầu với các thuật ngữ kinh tế “Phân công lao động” hay như Smith gọi đó là “chuyên môn”. Đây là ý tưởng tương tự, rằng nếu chúng ta chuyên môn hóa tại một nhiệm vụ, sau đó tự tăng năng suất của chính mình. Rothbard gọi nó là “Chuyên môn hóa sản xuất … mỗi người chuyên một nhiệm vụ mà anh ta cho là phù hợp nhất.” Smith đã xem đó là điểm thuận lợi và là hành động của con người trong bất kỳ xã hội nào cũng sẽ xảy ra. Nó là tính phổ quát cho nhân loại, bởi vì nó là kết quả của quy luật tự nhiên. Ông đã không phát minh ra khái niệm này, nhưng mà chỉ tuyên bố rõ ràng sự thật để tất cả để được hưởng lợi từ nó.

Tại sao những ý tưởng này bị lãng quên ở Anh từ thời Đại chiến cho đến những năm 1980s và sự hồi sinh của Kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Margaret Thatcher và các thành viên nội các của bà? Vâng, một nhà kinh tế học Áo và sống một phần cuộc đời trưởng thành của mình tại Anh, giảng dạy tại Đại học Cambridge như người đối đầu với John Maynard Keynes – đã ảnh hưởng đến quan điểm kinh tế-chính trị của bà rất nhiều. Người đàn ông này là Friedrich August von Hayek, và chính trường phái kinh tế của ông,  trường phái kinh tế học Áo, đã tác động rất nhiều đến mô hình kinh tế thị trường tân tự do, cùng với trường phái Chicago theo Milton Friedman, người cũng bị ảnh hưởng bởi Hayek.

Người cha đẻ của trường học kinh tế Áo là Carl Menger, người đã tiếp nối các trường phái kinh tế cổ điển Anh. Sự khác biệt nho nhỏ giữa Smith và Menger là căn cứ của họ cho nền kinh tế trên quy luật tự nhiên (của Smith) những câu lý thuyết dựa trên chủ quan, giá trị cá nhân trong hàng hóa và dịch vụ (của Menger). Tuy nhiên, sự nhấn mạnh của kinh tế thị trường tân tự do vẫn nguyên tắc rằng khả năng tự do cá nhân và lựa chọn trong nền kinh tế càng lớn, càng có nhiều cá nhân và quốc gia sẽ được hưởng lợi.

Menger nói về mình, “Con người tự bản thân là khởi đầu và kết thúc của mỗi hoạt động kinh tế … nghiên cứu của chúng tôi là các lý thuyết về khả năng của một con người để thỏa mãn với cái mình muốn … bản chất sự cố gắng của con người nhằm đáp ứng mong muốn … quá trình thỏa mãn sự hài lòng không hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức và nội tâm của con người, mà còn phụ thuộc điều quan trọng là thế giới bên ngoài và do đó, theo luật nhân quả… “Tất cả những điều này làm nền tảng cho luật nhân quả.” Vì thế, các cơ sở của mô hình tân tự do là dựa trên nhân loại và sự tự do của họ để lựa chọn điều tốt nhất mà anh/cô đều có thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực kinh tế của chính mình.

Lý do tại sao các trọng tâm của sự linh hoạt trong công việc có lợi cho các quyết định quản lý hoạt động kinh doanh ? Bởi vì điều này dẫn đến khả năng của doanh nghiệp để “Thuê và sa thải” như nhu cầu của định hướng thị trường. Thị trường, giống như nền kinh tế, đi qua những thời điểm mở rộng và mâu thuẫn. Trong suốt thời gian phát triển doanh nghiệp thuê thêm người, bởi vì thị trường đòi hỏi nhiều lao động đến làm việc và tăng nguồn cung thấp hàng hóa để đáp ứng (thường ở mức cao) nhu cầu cho những hàng hóa này trên thị trường. Tuy nhiên, khi nhu cầu đi xuống, thì yêu cầu để chuyển một số lao động thành lao động bán thời gian và miễn nhiệm người khác, bởi vì với lượng hàng tồn kho và không có nhu cầu để mua nó, doanh nghiệp phải tạo ra nhu cầu bằng cách giảm giá đáng kể và cho phép một số nhân viên của mình đi nơi khác. Đây chỉ là bản chất của thị trường, và sự tự do của công việc linh hoạt cho phép các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường và cho phép mọi người tự do lựa chọn công việc họ muốn làm. Một số người, mặt khác, sẽ gọi đây không phải công việc linh hoạt, mà là cách bảo vệ công việc yếu kém – không chỉ cho Vương quốc Anh mà đối với cả thế giới nói tiếng Anh.

Có bất lợi nào cho việc linh động hóa công việc, việc này có làm cho một nền kinh tế ổn định hơn? Khái niệm về công việc linh hoạt và vai trò quan trọng của doanh nhân là rất quan trọng đối với các trường phái Áo như có thể được hiểu trước đây trong bài tiểu luận này. Vậy, công việc linh hoạt không làm cho nền kinh tế, về mặt toàn diện, tốt hơn? 

À, vâng, việc linh hoạt công việc là một bất lợi cho nền kinh tế trên nhiều cấp độ. Vì yếu tố, như trong nền kinh tế Đức, thiếu linh hoạt trong thị trường việc làm đã dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế và mức thất nghiệp cao bên Đức, vì nền kinh tế không thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng mà thị trường liên tục trải qua. Một ví dụ khác là bằng chứng trong nền kinh tế Pháp, nơi mà luật pháp rất khó khăn cho việc sa thải một nhân viên. Vì nó khó khăn nên với kinh tế Pháp, việc tuyển một công nhân cũng là một cuộc đầu tư kinh doanh mạo hiểm.

Nó tiếp tục vấn đề thất nghiệp của Pháp. Lý do thứ ba lý do tại sao công việc cứng nhắc cản trở nền kinh tế và các quyết định quản lý kinh doanh là bởi nó trực tiếp giảm khuyến khích đầu tư từ nước ngoài, như có thể thấy trong nền kinh tế Đức. Cuối cùng, nó giúp linh hoạt hóa thế giới của công việc – “một xã hội linh hoạt là tốt hơn một xã hội phẳng: sự chênh lệch ở mức chấp nhận được nếu kết hợp với chế độ nhân tài và mức tiến triển kinh tế nhìn chung. ” Các phương tiện sở hữu và việc phân bổ các nguồn lực, cùng các cơ chế để ban hành một quyết định tương tự, cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định quản lý kinh doanh, cũng như nền kinh tế trên tổng thể.

Tầng lớp trên của chuỗi nhu cầu trong một nền kinh tế nên thông qua chính phủ bằng các kế hoạch quan liêu hay thị trường kinh doanh?  Vâng, trước hết tiền lương có thể được đưa bàn luận, và nó chính là niềm tin vào thị trường tân tự do rằng “phụ thuộc vào mỗi cá nhân để xác định có bao nhiêu lao động cần được trả lương hay những khoản khen thưởng.” Cũng như việc quản lý các nguồn lực thông qua tinh thần kinh doanh, nó phải được thông qua kinh doanh vì tồn tại “khó khăn cho bất kỳ cơ quan nào bên ngoài ngành công nghiệp, bao gồm cả chính phủ, để có thể tự tin về tính chính xác những gì sẽ tạo ra lợi nhuận dựa trên việc yêu cầu hồi vốn, do đó có nguy hiểm từ cả sự lãng phí tài nguyên lẫn mục tiêu không thể đạt được. Tư nhân hóa làm nền kinh tế tránh những vấn đề này.”

Bỏ rơi việc phân bổ các nguồn tài nguyên trong khu vực công dẫn đến lãng phí, hoặc ít nhất là không hiệu quả như đã thấy trong các ngành công nghiệp quốc hữu hóa; Margaret Thatcher nói, “Tại sao chúng (các ngành công nghiệp quốc hữu hóa) lại có thể hiệu quả, khi chúng có quyền thò tay vào ví của người khác ?” Kết luận tương tự cũng đã được nói đến:” Một sự gia tăng lớn trong vai trò của thị trường tự do cũng như tư hữu các nguồn lực (dẫn đến) giảm sự tham gia của nhà nước trong nền kinh tế.” Các thị trường tư nhân đơn giản dẫn đến một hiệu quả tuyệt vời trong việc phân bổ các nguồn lực. Margaret Thatcher đã thay đổi nền kinh tế của Anh.

Tác giả thiết nghĩ để tốt hơn, với mô hình kinh tế và kinh doanh mới ở Anh, chính là “mô hình tân tự do theo luật tự nhiên và dựa theo một mức độ đáng kể hình mẫu thị trường tự do của nền kinh tế Hoa Kỳ.” Như đã nêu trước đó, sự tham gia của chính phủ càng ít hơn trong phân bổ các nguồn lực, càng hiệu quả và ít lãng phí hơn khi được tổ chức trong tay tư nhân và các quyết định quản lý kinh doanh tư nhân.

Bình Luận