_Scott E. Danis_

Sau Đệ nhị thế chiến Anh dưới thời kỳ nắm quyền của đảng Lao Động thi hành quốc hữu hóa cơ sở sản xuất, biến nước Anh từ cái nôi của Chủ Nghĩa Tư Bản thành nền kinh tế tập trung duy nhất ngoài khối Cộng sản. Đến những năm 70s, nó bị xem là “Con bệnh của Châu Âu” (The Sickman Of Europe). Margaret Thatcher, nữ Thủ tướng đến từ đảng Bảo Thủ vào cuộc bầu cử năm 1979 đã sửa đổi tất cả chỉ trong 11 năm. Bà là Thủ tướng tại vị lâu nhất và được tôn vinh là “Thủ tướng vĩ đại nhất kể từ thời Winston Churchill.”

Khái niệm về sự phân bổ và sử dụng các nguồn lực hiệu quả chính là sản phẩm trí tuệ lý thuyết của nhà kinh tế học người Áo, Von Wieser và “khái niệm chi phí cơ hội “hay luận về những gì có thể được thực hiện với nguồn tài nguyên khan hiếm này”? Lý thuyết của ông là điều cần thiết cho một học thuyết kinh tế vĩ mô, bởi vì nó giải thích chính xác như thế nào và tại sao các nguồn lực của một quốc gia phải được sử dụng một cách cẩn thận và không nên dễ dàng lãng phí như đã từng được thực hiện hết lần này đến lần khác tại các quốc gia như Liên Xô và Trung Cộng. Nguồn lực khan hiếm, bất kỳ quốc gia hoặc công ty tư nhân nào cũng phải cân nhắc cẩn thận ”Đây có phải là cách sử dụng tốt nhất nguồn lực hạn chế này? Nó có thể được sử dụng hiệu quả hơn, hoặc nó có thể được tái sử dụng trong tương lai không ?”

Lý thuyết Von Wieser tự nó đã đủ để bác bỏ lý thuyết về sở hữu doanh nghiệp và các ngành công nghiệp nhà nước của Keynes và do đó cũng khiến các lý thuyết của Keynes bị vùi vào đất. Chính phủ sở hữu công nghiệp, các doanh nghiệp và các công ty như của Liên Xô trước đây, chủ nghĩa xã hội-dân chủ ở châu Âu và không may Anh Quốc từ năm 1945 đến thời đại Thatcher đã không còn động cơ lợi nhuận; thuế mang lại doanh thu cho họ, và tất cả họ quan tâm đến là ban phát việc làm cho mọi người, bất kể họ đang lãng phí nguồn tài nguyên hoặc thuê quá nhiều người cho cùng một nhu cầu. Trong thực tế, Liên Xô sản xuất nhiều thép và xi măng hơn phương Tây trong những năm 1970, nhưng nó đã bị lãng phí vì không có đủ nhu cầu đối với một nguồn cung lớn như vậy. Tuy nhiên, khi các ngành công nghiệp, các doanh nghiệp và các công ty đều thuộc sở hữu tư nhân, họ có mối quan tâm theo kịp với nhu cầu thị trường và với tỷ suất lợi nhuận trong tâm trí , và sẽ không muốn lãng phí nguồn lực, bởi vì nó sẽ có hại cho doanh nghiệp khi làm như vậy.

Do đó, nếu một quốc gia không muốn lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên của nó, thì nó nên cho phép các doanh nghiệp tư nhân xác định việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, vì dù sao đó cũng là những gì họ bận tâm.

Một trong những nhà kinh tế học người Áo vĩ đại, đặc biệt là trong thời gian gần đây, Friedrich August von Hayek. Von Hayek tập trung vào ý tưởng rằng, “kinh tế tính toán đòi hỏi một thị trường cho các phương tiện sản xuất; mà nếu không có một thị trường như vậy, sẽ không có cách nào để thiết lập các giá trị của các phương tiện và, do đó, không có cách nào để tìm thấy cách sử dụng thích hợp của chúng trong sản xuất.” Một lợi thế cho các doanh nghiệp trong các việc quyết định là mô hình kinh tế thị trường tân tự do cho phép quá trình đầu tư, cả trong nước và ở nước ngoài, cho cả các khoản đầu tư dài hạn ngắn hạn. Việc đầu tư vào những phi vụ phiêu lưu kinh doanh ở nước ngoài được gọi là toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa cũng đã tạo ra một sự bùng nổ thực sự trong công nghệ và ứng dụng trong việc tối đa hóa các hiệu quả lao động của con người. Những điều này, cùng sự kết hợp của cả hai công nghệ lẫn toàn cầu hóa “, hứa hẹn sẽ cải thiện nhân loại nói chung không sao đong đếm được.” Liệu toàn cầu có làm nảy sinh vấn đề với các nền kinh tế thế giới và đó có phải là một giải pháp? Toàn cầu hóa và công nghệ có làm mất việc làm từ người dân?

Vâng, điều này dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ và các chính sách “khóa mọi người vào công việc nơi họ có thể được trọng dụng tốt hơn ở nơi khác.” Điều đó, không gì khác hơn là tự chuốc lấy thất bại, và tương tự như vậy cùng với chủ nghĩa bảo hộ trong thị trường toàn cầu ngày nay. Tuy nhiên, hành động này được biết rằng chỉ gây lãng phí nguồn tài nguyên, như đã nêu trước đó trong bài.

Mặc dù toàn cầu hóa có vẻ không công bằng cho các ‘công nhân bình thường’, việc trao các khoản tiền phúc lợi cho ‘các nạn nhân của thương trường’ có vẻ từ bi và là “điều phải làm” trên lý thuyết, nhưng nó thực sự là rất, rất khó khăn trong thế giới thực, vì việc phá dỡ các rào cản thương mại dẫn đến việc làm trình độ cao hơn và tạo ra thịnh vượng. Những tác động của toàn cầu hóa tay-trong-tay đi cùng với công nghệ đã dẫn đến sự bùng nổ trên toàn thế giới và tạo ra của cải nhiều hơn thông qua đầu tư, và trong thực tế cả về lao động, nhằm tạo ra hoạt động có lợi cho các nhà đầu tư.

Một ưu điểm của mô hình tân tự do về quyết định kinh doanh là một nhà nước phúc lợi nhỏ so với những nơi lớn hơn theo mô hình lục địa châu Âu . Anh, Mỹ và Úc có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới, nhưng có sự chênh lệch giữa bất bình đẳng xã hội và thất nghiệp. Tuy vậy, những điều này đã được bù đắp một phần bởi (FIND) hoàn thuế cho các gia đình và “tín dụng thuế cho lao động nghèo ” theo tiêu chuẩn châu Âu. Điều này mang đến một câu hỏi cho tác giả, nên định nghĩa về nghèo trong xã hội theo đâu? Con người, hoặc một Chính phủ cho biết, hoặc những gì định nghĩa về nghèo của Kinh Thánh?

Ngoài ra có thú vị không, khi những nước mô hình Anh-Mỹ theo một chủ nghĩa triết học thực nghiệm trong khi các quốc gia lục địa theo thực dụng triết học ? Trong thực tế, có công bằng không khi nói rằng trường phái  Áo nhấn mạnh vào hành động của con người, là nền tảng của mọi nền kinh tế, không có gì hơn một phần mở rộng của triết học thực nghiệm?

Sự thu nhỏ của nhà nước phúc lợi chính là một ví dụ trong kinh tế học, nó đã dẫn tới tăng giờ làm việc theo mô hình Anh-Mỹ; dưới hình thức các nền kinh tế Pháp-Đức, công nhân của họ thường làm việc ít hơn bốn trăm giờ mỗi năm so với đối tác Anh-Mỹ của họ, và tương tự với công nhân Bắc Âu, những người làm việc ít hơn hai trăm năm mươi giờ so với mô hình Anh-Mỹ. Hệ thống giáo dục trang bị cho những người lao động để trở nên linh động hơn và vì tính linh động, họ được chọn ra từ những người sử dụng lao động cung cấp những đề án lương hưu, chăm sóc sức khỏe, và vì những yếu tố này diễn ra trong các công ty thị trường tư nhân, nên sẽ không có những lo ngại về việc mất các kế hoạch này chỉ vì một thay đổi công việc. Ngoài ra, đáng lưu ý rằng kể từ khi nước Anh theo mô hình tân tự do, nó đã có mức trao đổi chứng khoán lớn nhất ở châu Âu và tỷ lệ phần cổ đông sở hữu cổ phiếu của các quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí lớn nhất.

Các tổng kết điểm cuối trong trường phái Áo tác động đến Cách mạng Thatcher, tân thị trường kinh tế tự do là: “cơ sở chủ quan của giá trị, lý thuyết về hữu dụng biên (1) … khoa học về hành động con người dựa trên suy luận logic … Những nhà tư bản trả tiền tiết kiệm được, trả tiền người lao động, và chờ đợi cho đến khi sản phẩm cuối cùng được bán nhằm thu về lợi nhuận … Một nền kinh tế đang phát triển không chỉ là một hệ quả của tăng vốn đầu tư, mà là quá trình dài của sản xuất nhân rộng và rộng thêm nữa … lý thuyết hữu dụng biên áp dụng đối với tiền tệ cũng như sự mở rộng tín dụng ngân hàng.” Đây là những lý do chính giải thích tại sao các chính sách kinh tế của bà Thatcher về công việc và cho phép các cá nhân và quốc gia của họ phát triển. Các khái niệm kết hợp tự do cá nhân cùng với trách nhiệm cá nhân trong một chính phủ với quyền lực hạn chế, tạo ra sáng kiến ​​cá nhân để cải thiện bản thân mình trong thị trường, nơi làm việc và cuối cùng, tự do kinh tế cá nhân, hay còn gọi là thị trường tự do.

Trong kết luận, quyền tự do cá nhân và trách nhiệm cá nhân là trung tâm đánh giá của Thatcher về những gì mà một nền kinh tế tạo nên, và thực sự có thể công bằng để nói rằng bà đã bị ảnh hưởng bởi các tác phẩm của đại Triết gia người Anh Locke về nguyên tắc của chính phủ hạn chế và sự tự do trong phạm vi các bài viết chính trị của ông. Chính cá nhân là động lực để làm việc tốt nhất, hoặc động lực đằng sau thị trường tự do, hoặc tân tự do kinh tế, hoặc ở Anh gọi là chủ nghĩa Thatcher và thực sự cho phép tự do để các doanh nhân hoạt động trong quyết định quản lý kinh doanh. Adam Smith đã viết rằng, “Mỗi cá nhân … có quyền định hướng ngành lĩnh vực của mình theo cách mà sản phẩm của nó có thể mang lại giá trị lớn nhất, dự định theo lợi ích riêng duy nhất của anh ta (cá nhân) … Bằng cách theo đuổi lợi ích riêng của mình, anh thường xuyên thúc đẩy  xã hội hiệu quả hơn.”  Ông cũng nhấn mạnh quyền tự do này cùng trên thị trường như một sự hợp nhất, “kinh tế thị trường nói chung phục vụ lợi ích công cộng tốt và rằng nhà nước không nên can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế.” Smith hiểu rằng tự do cá nhân là động lực mạnh nhất đằng sau doanh nghiệp tự do hay kinh tế thị trường tự do, ngoài chuyển động của bàn tay vô hình, trong đó lợi ích quá lớn trong sự tự do của doanh nghiệp có thể quyết định mô hình quản lý kinh doanh theo ý định tự do của mình. Cá nhân sẽ tìm kiếm lợi ích riêng của mình, và khi làm như vậy, xã hội gián tiếp được hưởng lợi.

Von Hayek, là người đã tái giới thiệu các mô hình tân tự do thông qua tác phẩm của ông, cũng là một người ủng hộ cho tự do cá nhân và quyền tư hữu cá nhân được thể hiện trong bài viết, “Một tuyên bố về sự bình đẳng, về vị trí của nguồn lực xã hội chỉ có thể được thực hiện bởi một chính phủ có quyền lực hạn chế.” Chính mô hình kinh tế chỉ huy là đối cực của mô hình tân tự do. Nói tóm lại, “chủ nghĩa Thatcher … không những đã bảo vệ khuôn mẫu về thiết lập các giá trị xã hội, mà còn là một biện pháp khả thi cho tổ chức và hiệu quả kinh tế tầm quốc tế “.

(1). Hữu Dụng toàn bộ (Total Utility) và Hữu Dụng biên (Marginal Utility):

+ Hữu dụng toàn bộ đi cùng một hàng hoá là mức thoả mãn có được từ việc tiêu dùng hàng hoá đó.

+ Hữu dụng biên là một cách tính Hữu dụng bổ sung có được khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá.

Để dễ hiểu, xin giải thích hơi ngược một tí (không theo sách vở) là:

Một người khi chưa ăn miếng bánh pizza nào thì hữu dụng toàn bộ và hữu dụng biên đều là 0. Khi người đó ăn một miếng bánh đầu tiên họ sẽ có cảm giác thỏa mãn lớn nhất (ngon nhất) – tức hữu dụng biên của miếng bánh thứ nhất là lớn nhất; khi ăn miếng thứ hai, cảm giác thỏa mãn của họ sẽ giảm đi một chút – hữu dụng biên của miếng bánh thứ hai giảm đi một chút,… đến một lúc nào đó người này không thấy ngon nữa thì nếu ép họ ăn thêm 1 miếng (giả sử là miếng thứ 6), cảm giác lúc này không phải là thỏa mãn mà là khó chịu – hữu dụng biên của miếng bánh thứ 6 là âm (<0)! – đây cũng chính là một quy luật theo thuyết cận biên: quy luật hữu dụng biên giảm dần (diminishing marginal utility). Quy luật này được cho là xảy ra với mọi hàng hóa thực sự.

Hữu dụng toàn bộ chính là tổng các hữu dụng biên của các sản phẩm đã tiêu dùng – tức hữu dụng toàn bộ khi chưa ăn miếng bánh nào là 0; khi ăn 2 miếng thì hữu dụng toàn bộ là tổng hữu dụng biên của miếng bánh thứ nhất và miếng bánh thứ hai.

 Hết 

Bình Luận