Giữa tháng 10, ngay trong lúc MacArthur cho rằng thắng lợi đang gần kề, rằng Chính phủ Trung Hoa biết họ sẽ thảm bại nếu can thiệp, vì lẽ đó họ sẽ không làm như vậy, rằng mọi kháng cụ quân sự của quân Bắc Triều Tiên sẽ chấm dứt vào ngày lễ Tạ ơn (Thanksgiving Day), tức vào ngày thứ năm đầu tiên của tháng 11, thì các đơn vị Trung Quốc bắt đầu bí mật xâm nhập lãnh thổ Bắc Hàn và tham gia vào cuộc chiến tranh Triều Tiên.

Ngày 16.10, quân đội Trung Quốc vượt qua sông Áp Lục (Yalu). Cho rằng đây là “một trong những hành động hoàn toàn trái ngược với công pháp quốc tế”, ngày 6.11, MacArthur ra lệnh cho 90 pháo đài bay B-29 chuẩn bị tiến công các cầu bắc qua sông Áp Lục. Nhưng bộ trưởng Quốc phòng G. Marshall đã ngăn cấm cuộc hành quân này, chỉ ba giờ trước khi nó khởi sự. Hai ngày sau, phi cơ Mĩ được phép hoạt động, nhưng với một điều kiện rõ ràng là chỉ được đánh phá phần bờ sông thuộc lãnh thổ Triều Tiên, ngoài ra không được phép đụng đến các đập thủy điện cung cấp điện cho Mãn Châu. MacArthur đã lên tiếng phản đối điều kiện ràng buộc vừa kể, vì theo ông, nó đã gây trở ngại to lớn cho hoạt động của lực lượng dưới quyền ông, và nhất là đã tạo khu an tòa cho kẻ địch ngay sát cạnh chiến trường. Ông đòi phải “mau chóng có các biện pháp sửa chữa tình hình này”. Nhưng Truman đã cương quyết khước từ vì không muốn xung đột ở Triều Tiên lan rộng thành chiến tranh thế giới. Ông cũng nhận được một số tin tình báo cho rằng giới lãnh đạo Liên Xô đang mong muốn Mĩ can thiệp càng sâu càng tốt vào châu Á để họ rảnh tay hành động ở châu Âu. Còn người Anh và người Pháp cũng không muốn cuộc chiến ở đây lan rộng, vì lo ngại các tác động của viễn cảnh này đến những cam kết của Mĩ đối với họ.

Trong bối cảnh trên, Washington đã quyết định chọn con đường của một cuộc chiến tranh giới hạn. Dean Acheson và Dean Rusk đã liên tiếp lên tiếng trấn an giới lãnh đạo Bắc Kinh về số phận các đập thủy điện trên sông Áp Lục, và nhắc lại với MacArthur lệnh cấm xâm phạm Mãn Châu. Bên cạnh đó, họ lại cho phép ông này phát động một cuộc tiến công mới nhằm xác định, theo lời Truman, “quy mô, phương hướng và mục đích hoạt động của Trung Quốc”. Nhưng ngày 3.12, Hoa Kì đã buộc phải lùi bước trước những cuộc tiến công ồ ạt của quân đội Trung Quốc. MacArthur đã phải lên tiếng báo động rằng lực lượng của ông đang phải đương đầu với “cả nước Trung Hoa”, và nếu không có ngay một hành động quyết liệt, sẽ không còn một cơ may nào thắng lợi cả. Ngày 26.12, quân đội Trung Quốc vượt vĩ tuyến 38 và chiếm Seoul ngày 4.1.1951.

Trước đó, ngày 29.12 Hội đồng Tham mưu liên quân Hoa Kì điện báo cho tướng MacArthur rằng người Trung Hoa đủ sức, nếu họ muốn, đánh đuổi lực lượng LHQ ra khỏi Triều Tiên, và lệnh cho ông này “bắt đầu di tản về Nhật nếu lực lượng của ông bị đẩy đến bờ sông Kum.

Để tránh một thảm họa như trên, MacArthur đề nghị những biện pháp, mà mà sau khi ông chết mới được công bố trên báo: “Ném từ 30 đến 50 quả bom nguyên tử xuống các căn cứ không quân và trọng điểm khác ở Mãn Chu, đổ bộ lên hai địa điểm thuộc biên giới Trung Triều một lực lượng đông 50 vạn quân Đài Loan cùng với 2 sư đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ, và sau khi Trung Quốc bị đánh bại, thiết lập một phòng tuyến bằng chất cobalt phóng xạ dọc theo sông Áp Lục”. Tất nhiên, những đề nghị này đều bị gạt bỏ. Trước đó, ngày 4.12, Truman đều tiếng trấn an thủ tướng Anh về khả năng sử dụng bom nguyên tử trong cuộc chiến Triều Tiên. Truman công khai by tỏ hi vọng rằng “tình hình sẽ không bao giờ đòi hỏi phải dùng đến bom nguyên tử”.

Từ ngày 25.1 đến ngày 31.3.1951, lực lượng LHQ đã phản công đẩy mặt trận trở về quanh vĩ tuyến 38. Từ đó cho đến khi cuộc chiến chấm dứt, đường ranh mặt trận giữa hai bên bắt đầu ổn định ở khu vực này.

Đầu tháng 4, các cố vấn của Truman đã đi đến kết luận rằng nên tiến hành thương thảo trên cơ sở quay về nguyên trạng ban đầu. Dự thảo tuyên bố của tổng thống về vấn đề này cho rằng sau khi kẻ xâm lược đã bị đẩy lùi, cần tính đến chuyện việc vãn hồi hòa bình; trong chuyện này, cần tạo ra một “cơ sở được xem là chấp nhận được đối với tất cả những nước nào thành tâm muốn hòa bình”. Ở đây, một lần nữa, hồi sinh quan điểm của giới lnh đạo Mĩ, vốn đ từng xuất hiện trong những năm nội chiến ở Trung Quốc, đó là không để bị lôi cuốn vào một cuộc chiến trên lục địa châu Á, mà trước hết là ở Trung Quốc.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, tướng O. Bradley, đã đúc kết quan điểm vừa kể thành một công thức nổi tiếng sau: một cuộc chiến tranh với Trung Quốc, theo ông, sẽ là “một cuộc chiến tranh khó khăn ở một chốn khó khăn, diễn ra vào một thời điểm khó khăn, và chống lại một kẻ thù khó khăn”.

Nhưng không phải ai cũng đồng tình với quan điểm trên. Người lên tiếng phản đối mạnh mẽ hóa ra không phải ai khác mà chính là tướng MacArthur, tư lệnh lực lượng LHQ (và cũng là của Mĩ) ở mặt trận chiến tranh Triều Tiên. Ngày 20.3, trong thư gởi tổng thống Truman, ông lên tiếng cáo giác những người mà theo ông đã không hiểu rằng chính  “cộng sản quyết định dốc toàn lực để chinh phục thế giới”. Ông nói rằng “không có gì có thể thay thế được chiến thắng”. Do bất đồng quan điểm, ngày 11.4, Truman đã quyết định thay MacArthur bằng tướng Matthew Ridgway.

Ngày 19.5, tờ Pravda đã đăng lại một cách trang trọng đề nghị của thượng nghị sĩ Mĩ Johnson về việc ngừng bắn vào ngày 25.6 và quân đội hai bên rút về hai bên vĩ tuyến 38. Ngày 7.6, Acheson ra tuyên bố rằng một cuộc ngừng bắn như vậy sẽ đáp ứng được quyền lợi của các bên. Ngày 22.6, đại diện Liên Xô tại LHQ chính thức đề nghị các bên tham chiến thương lượng đình chiến không kèm theo một điều kiện tiên quyết nào khác.

Tướng McArthur và chiến tranh Triều Tiên
Tướng McArthur là người có công rất lớn trong việc tái thiết Nhật Bản sau Thế chiến 2, cũng như là giúp Nhật Bản thoát khỏi làn sóng cộng sản.

Cuộc đàm phán đình chiến Bàn Môn Điếm

Cuối cùng ngày 10.7.1951, dù chưa đạt được một thỏa thuận nào về ngừng bắn, đại diện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hợp Chúng Quốc châu Mĩ và Hàn Quốc vẫn gặp nhau ở Kaesong. Từ ngày 10.10.1951, cuộc đàm phán được dời về được dời về Bàn Môn Điếm (Panmunjon) nằm bên vĩ tuyến 38.

Cuộc đàm phán diễn ra rất khó khăn và chậm chạp. Ngày 27.11.1951, các bên đạt được thỏa thuận ngừng bắn dọc theo đường mặt trận lúc đó (so với vĩ tuyến 38, đường phân ranh mặt trận này có lợi cho phía Hàn Quốc hơn đôi chút). Sau đó, đặc biệt là từ tháng 5.1952, trở ngại duy nhất còn ngăn cản các bên đi đến một hiệp định đình chiến là vấn đề tù binh.

Dựa vào Thỏa ước Genève năm 1949 về vấn đề tù binh quy định rằng tất cả tù binh phải được trả về tổ quốc (trừ những người đang bị điều tra hình sự hay đang thọ án hình sự) ngay sau khi cc bn tham chiến thỏa thuận chấm dứt các hoạt động quân sự, phía Bắc Triều Tiên và Trung Quốc đã đề nghị trao trả tù binh (đầu tiên là những người bị thương tật hay đang bị bệnh) ngay sau khi hiệp định đình chiến được kí. Phía Mĩ và Nam Triều Tiên đề nghị trao đổi tù binh theo phương thức “một đổi một”. Nếu đề nghị này được chấp nhận, Hoa Kì sẽ có thể giữ lại gần 12 vạn tù binh Bắc Triều Tin và Trung Quốc. Ngoài ra, dựa vào các lí do “nhân đạo” và “nhân quyền”, phái đoàn Hoa Kì còn đòi áp dụng nguyên tắc “hồi hương tự nguyện”, nghĩa là các tù binh sẽ được phép xét định cư ở một nước khác (kể cả nước đang lâm chiến), nếu họ muốn.

Không được Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đồng ý, ngày 8.10.1952, Bộ chỉ huy lực lượng LHQ quyết định đình chỉ vô thời hạn cuộc đàm phán và suy tính một cuộc tiến công trên quy mô lớn. Tuy nhiên, hầu hết các tướng lĩnh Hoa Kì đều hồ nghi về cơ may của một chiến thắng có ý nghĩa, trừ khi lực lượng LHQ được tăng viện bằng một quân số đáng kể rút từ lực lượng Mĩ đang trú đóng ở nhiều nơi trên thế giới. Viễn cảnh này đã khiến Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kì chùn bước.

Tháng 12.1952, tổng thống Hoa Kì vừa đắc cử D. Eisenhower đang ở thăm Nam Triều Tiên đã tuyên bố rõ rằng ông ủng hộ đề nghị ngưng bắn tại chỗ. Và có thể là để gây áp lực lên đối phương, Eisenhower  đã nhiều lần kín đáo ám chỉ rằng nếu cuộc đàm phán không đạt được tiến bộ rõ rệt, Hoa Kì có thể sẽ dùng vũ khí hạt nhân và mở rộng cuộc chiến ra khỏi bán đảo Triều Tiên. Ngày 22.2.1953, Bộ chỉ huy lực lượng LHQ đề nghị trao đổi các tù binh bị thương và bị bệnh. Đánh giá đây là một sáng kiến tích cực, ngày 28.3, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên trả lời đồng ý và bày tỏ mong muốn nối lại đàm phán. Ngày 30 tháng 3, Bắc Kinh và Pyongyang ra tuyên bố chấp nhận đề nghị của Ấn Độ được đưa ra năm 1952 là giao tù binh “không chịu trở về nước” cho một  nước trung lập. Ngày 11.4, các bên tham chiến thỏa thuận trao đổi tù binh bị thương và bị bệnh. Ngày 26.4, cuộc đàm phán đình chiến ở Bàn Môn Điếm được khởi sự trở lại, nhưng, tiến triển rất chậm chạp vì bị gy khĩ khăn bởi sự chống đối quyết liệt của Lý Thừa Vn đối với bất kì hiệp định đình chiến no đưa đến sự chia cắt bán đảo Triều Tiên.

Trở ngại trên chỉ được khắc phục sau khi Hoa Kì thuyết phục Lý Thừa Vãn rút lại yêu sách bằng đề nghị kí một hiệp ước phòng thủ và lưu giữ quân Mĩ ở Nam Triều Tiên([1]). Ngày 27.7.1953, Hiệp định đình chiến trên bn đảo Triều Tiên đã được kí kết.

Hiệp định bao gồm những nội dung chính sau:

– Trong lúc chờ đợi một giải pháp hòa bình và tòan bộ, các bên chấm dứt tất cả các hoạt động quân sự và thù địch;

– Hai miền Nam và Bắc sẽ được ngăn cách bằng một vùng phi quân sự có bề rộng 4 km chạy dọc theo giới tuyến quân sự đã được thỏa thuận hồi tháng 11.1951;

– Các tù binh được phép chọn lựa: hoặc hồi hương, hoặc được hưởng “quy chế tị nạn chính trị”;

– Một ủy ban giám sát việc thực thi hiệp định sẽ được thành lập gồm đại diện các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Thụy Điển và Thụy Sĩ;

– Một hội nghị chính trị sẽ được triệu tập sau 3 tháng nữa để “giải quyết thông qua đàm phán các vấn đề rút toàn bộ quân đội nước ngoài khỏi Triều Tiên, giải quyết hoà bình vấn đề Triều Tiên…”.

(1)  Ngày 1.10.1953, Hoa Kì và Nam Triều Tin đã kí Hiệp ước Phòng thủ chung, theo đó hai nước sẽ tham khảo ý kiến để đối phó với mối đe dọa nhằm vào một bên kí kết và trong trường hợp xảy ra một cuộc tiến công, hai nước cam kết sẽ hành động “phù hợp với hiến pháp của hai nước”. Hiệp ước cho phép Mĩ bố trí vô thời hạn lực lượng quân sự trên và chung quanh lãnh thổ Nam Triều Tin những vùng đất nào “trong tương lai sẽ thuộc quyền cai quản của Chính phủ Hàn Quốc “, miễn là tiến trình này được thực hiện bằng các biện pháp hòa bình.
Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Chia sẻ

Bình Luận