Nguyên nhân

Sau khi hai chính phủ riêng biệt được thành lập ở hai miền Bắc và Nam Triều Tiên, quân đội Liên Xô và quân đội Hoa Kì đã lần lượt rút về nước trong năm 1949. Từ đây, hai miền Triều Tiên phát triển theo hai con đường (xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tư bản chủ nghĩa ở miền Nam) hoàn toàn đối chọi nhau trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng, văn hóa…

Nguyên nhân về phía Nam Triều Tiên

Ở miền Nam, chế độ cai trị hà khắc và độc đoán của Lý Thừa Vãn đã mau chóng cho thấy ông là một nhà lãnh đạo thất nhân tâm. Những đối thủ chính trị đều bị ông thẳng tay trấn áp. Tính đến giữa năm 1950, đã có 14.000 người bị bắt giam vì lí do chính trị, trong đó có 14 đại biểu Quốc hội. Trong lúc đó, kinh tế thường xuyên bị khủng hoảng, nạn lạm phát trở nên trầm trọng, nhưng Chính phủ lại không quan tâm giải quyết.

Bức chân dung của Lý Thừa Vãn đã được chính tổng thống Truman khắc họa như sau:

“Tổng thống Lý  là một con người với những tín điều đã được xác lập vững chắc và mau chóng mất kiên nhẫn với bất kì ai không đồng ý kiến. Từ lúc quay về Triều Tiên, năm 1945, ông đã tập hợp quanh mình những người cực hữu và bất đồng dữ dội với các thủ lĩnh chính trị ôn hòa hơn… Tôi không thích những phương pháp mà cảnh sát của Lý đã sử dụng để giải tán những người biểu tình và kiểm tra hoạt động của những đối thủ chính trị, và tôi rất lo lắng trước việc Chính phủ ít quan tâm đối phó với cuộc khủng hoảng trầm trọng đang đe dọa nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, tôi không có sự lựa chọn nào khác và phải ủng hộ Lý. Triều Tiên đã bị Nhật thống trị từ năm 1905 và xứ này không còn nhà chính trị nào khác.”

Đã trở thành quy luật: một đường lối đối nội phản động luôn gắn liền với một chính sách ngoại giao hiếu chiến. Trong mưu toan giảm bớt sự chống đối trong nước, Chính phủ Lý Thừa Vãn đã thường xuyên lớn tiếng hô hào thống nhất xứ sở bằng con đường bạo lực quân sự. Chẳng hạn, ngày 11.6.1949, Lý công khai tuyên bố Nam Triều Tiên đang chuẩn bị một cuộc tiến công mang tính chất hủy diệt đối với đảng Lao động Triều Tiên. Có tới 41.000 quân Nam Triều Tiên đã được điều động đến sát giới tuyến phân ranh hai miền. Tuy nhiên, do chính phủ Mỹ không tin tưởng vào đường lối đối ngoại của Lý Thừa Vãn, nên đã cẩn thận không trang bị cho quân đội Nam Triều Tiên những vũ khí nặng nhằm đề phòng Seoul xâm lăng miền Bắc.

chính quyền độc tài Lý Thừa Vãn
Vì những hành động đàn áp dã man của chính quyền ông Lý Thừa Vãn, Mỹ đã không giúp Hàn Quốc những vũ khí hạng nặng. Trong khi đấy, chính quyền Bình Nhưỡng lại được khối Cộng Sản hỗ trợ quân sự một cách toàn diện và đạt được ưu thế quân sự trong thời gian đầu.

Nguyên nhân về phía Bắc Triều Tiên

Chính phủ Kim Nhật Thành đã phản ứng ra sao trước các tuyên bố và hành động có tính cách khiêu khích của Chính phủ Lý Thừa Vãn? Cho đến nay vẫn chưa có nhiều  tư liệu thực sự đáng tin cậy được Chính phủ Bình Nhưỡng (Pyongyang) công bố liên quan đến những gì đã diễn ra ở Bắc Triều Tiên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Phản ứng của Chính phủ Bình Nhưỡng có thực là chỉ gồm toàn những nỗ lực hướng đến việc giải quyết tình trạng chia cắt đất nước và thống nhất xứ sở bằng con đường hoà bình không, theo như những tài liệu chính thức của Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên?

Riêng những tư liệu liên quan đến cuộc chiến Triều Tiên được Liên bang Nga công bố trong những năm gần đây cho thấy: tháng 3.1949, sau chuyến viếng thăm của Kim Nhật Thành, Liên Xô đã tăng cường viện trợ quân sự cho Bình Nhưỡng. Nhờ vậy, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, lực lượng quân sự của Bắc Triều Tiên đã lớn mạnh rất nhanh([1]). Tháng 9.1949, Kim Nhật Thành đã đưa ra một đánh giá rất lạc quan: “Nếu tình hình quốc tế cho phép thì Bắc Triều Tiên có thể chiếm Nam Triều Tiên trong vòng từ hai tuần đến hai tháng”.

Không lâu trước khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, từ ngày 30.3 đến ngày 25.4.1950, Kim Nhật Thành đã bí mật dẫn đầu một phái đoàn sang thăm Liên Xô. Ông đã tìm cách vận động để Chính phủ Liên Xô ủng hộ nỗ lực thống nhất đất nước bằng con đường quân sự, mà chính phủ ông đang chủ trương. Theo N. Khrushchev, chính thái độ lơ lửng của Stalin đã khuyến khích Kim quyết định hành động. Thực ra, cũng theo những tài liệu được công bố gần đây, Stalin đã nói với Kim Nhật Thành rằng vào thời điểm hiện nay, bất luận là cục diện bên trong Triều Tiên hay là cục diện quốc tế có nảy sinh những thay đổi quan trọng, chủ nghĩa đế quốc sẽ không tiến hành can thiệp trực tiếp vào vấn đề xung đột nội bộ ở Triều Tiên, do vậy kế hoạch thống nhất Triều Tiên bằng con đường quân sự có thể thực hiện được, và trước khi tiến hành, cần thông báo trước cho Mao Trạch Đông.

Sau đó, ngày 13.5, khi gặp Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh trong chuyến viếng thăm kéo dài 4 ngày, Kim Nhật Thành giải thích: “Quan hệ căng thẳng Nam – Bắc Triều Tiên đã đến hồi không giải quyết không được, nhân dân Nam Triều Tiên mong muốn thống nhất Tổ quốc, hiện nay cơ hội thống nhất Triều Tiên đã đến rồi. Chỉ cần Trung Quốc đồng ý, còn chúng tôi không cần bất cứ sự viện trợ nào”. Ông cho rằng khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khả năng quân đội Nhật tham chiến là ít xảy ra, còn khả năng Mĩ can thiệp là hầu như không có. Dù rất đỗi bàng hoàng trước quyết định của Kim và Stalin, Mao Trạch Đông vẫn hứa sẽ ủng hộ: “Nếu quân đội Mĩ tham gia, Trung Quốc sẽ phái quân sang ủng hộ Bắc Triều Tiên. Nếu chúng vượt vĩ tuyến 38, chúng tôi sẽ dứt khoát tham gia chiến đấu”.

Trên cơ sở những dữ kiện nào, Stalin và Kim Nhật Thành lại đi đến một nhận định quá chắc chắn như vậy?

Nguyên là sau thắng lợi của đảng Cộng sản Trung Quốc ở lục địa Trung Hoa, trong chính sách của Hoa Kì đối với Trung Quốc nổi lên vấn đề Đài Loan. Ngày 5.1.1950, tức sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời và trong lúc phái đoàn của Mao Trạch Đông còn đang ở thăm Liên Xô, Nhà Trắng đã công bố lập trường của mình về vấn đề Đài Loan như sau: “Hoa Kì không có ý định tìm kiếm những quyền lợi hay sự ưu đãi nào đặc biệt, hoặc thiết lập căn cứ quân sự ở Đài Loan vào lúc này. Hoa Kì cũng không có ý định sử dụng lực lượng quân sự của mình để can thiệp vào tình hình  hiện nay. Hoa Kì sẽ không theo đuổi đường lối có thể dẫn đến việc dính líu vào cuộc nội chiến ở Trung Quốc. Tương tự như vậy, Chính phủ Hoa Kì sẽ không cung cấp viện trợ hay cố vấn quân sự cho lực lượng Trung Quốc ở Đài Loan”.

Tuy nhiên, những từ “vào lúc này” cho thấy có khả năng Washington sẽ thay đổi chính sách đối với Đài Loan. Đó là trong trường hợp lực lượng Hoa Kì bị tiến công ở Viễn Đông, theo lời giải thích của bộ trưởng Ngoại giao Dean Acheson trong cuộc họp báo cũng diễn ra trong ngày 5.1: “Hoa Kì phải hoàn toàn được tự do có bất kì hành động gì ở bất kì khu vực nào vì nền an ninh của mình”. Tiếp theo đó, ngày 12.1, tại Câu lạc bộ Báo chí trong nước, Dean Acheson đã xác lập rõ tuyến phòng thủ ở phía tây Thái Bình Dương mà Hoa Kì phải duy trì nhằm đối phó với điều mà Washington gọi là “mối đe dọa từ phía cộng sản”. Tuyến này chạy dọc theo quần đảo Aleutian, ngang qua Nhật Bản, quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu) và kéo dài đến quần đảo Philippines. Như vậy, Nam Triều Tiên và cả Đài Loan đều không nằm trong phạm vi phòng thủ của Hoa Kì ở Viễn Đông([2]). Ông thậm chí còn thêm rằng “cho dù nền an ninh quân sự của những khu vực ở Thái Bình Dương đòi hỏi, vẫn phải nói rõ rằng không một ai có thể bảo vệ chúng chống lại một cuộc tiến công quân sự”. Lí do của chính sách này được D. Acheson giải thích rõ ở cuộc họp báo là phần lớn tiềm lực có giới hạn của Hoa Kì phải được dồn về một khu vực khác ưu tiên hơn: đó là châu Âu.

Trong bối cảnh mà Hoa Kì đã không có một phản ứng gì đáng gọi là quyết liệt trước thắng lợi của đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hoa Lục, thì ai lại có thể giả định rằng giới cầm quyền Hoa Kì sẽ can thiệp quân sự ở một mảnh đất Triều Tiên nhỏ bé, nơi mà quân đội của họ đã rút đi hết một năm trước đó? Hơn thế nữa, trước chuyến viếng thăm Liên Xô của Kim Nhật Thành, tình báo Xô viết đã bắt được bức điện của tướng MacArthur từ Nhật gởi về Mĩ nói rõ chủ trương của ông là Mĩ không nên can thiệp vào cuộc xung đột Bắc – Nam Triều Tiên.  Vả chăng, ông này đã từng lớn tiếng tuyên bố rằng bất kì ai chủ trương một cuộc xung đột lớn trên lục địa châu Á cần phải được kiểm tra xem có còn đủ tỉnh táo không.

Tuy nhiên, có một sự kiện quan trọng mà Liên Xô, Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên không biết. Đó là ngày 25.4.1950, Hội đồng An ninh Quốc gia (HĐANQG) Hoa Kì đã thông qua một văn kiện tuyệt mật mang kí hiệu NSC-68([3]).

Diễn biến và sự quốc tế hóa cuộc chiến tranh Triều Tiên

Bình minh ngày chủ nhật 25.6.1950, các đơn vị Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã vượt vĩ tuyến 38 tràn xuống phía nam, mở đầu cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài đến năm 1953, với sự tham dự của hai bên Triều Tiên cùng quân đội Hoa Kì và Chí nguyện quân Trung Quốc. Ngay từ đầu, Bắc Triều Tiên đã dốc gần như toàn lực: 4 sư đoàn quân đội và 3 lữ đoàn cảnh sát, được trang bị nhiều loại vũ khí nặng như xe tăng, đại bác và cả máy bay, trong lúc quân đội của Nam Triều Tiên chỉ vào khoảng 6 vạn, được sự huấn luyện của 500 cố vấn Mĩ, nhưng chỉ được trang bị các loại vũ khí nhẹ mang tính chất phòng thủ.

Chỉ 24 giờ sau khi cuộc chiến bùng nổ, xe tăng của Quân đội Nhân dân Triều Tiên đã xuất hiện ở ngoại ô Seoul.

Ngay trong ngày Bắc Triều Tiên khởi sự cuộc chiến, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (HĐBA LHQ) đã được triệu tập khẩn cấp theo yêu cầu của Mĩ và, bằng 9 phiếu thuận, 0 chống, 1 trắng (Nam Tư) đã yêu cầu Bình Nhưỡng rút hết quân về bên kia vĩ tuyến 38. Tiếp đó, ngày 27.6, HĐBA bằng 7 thuận, 1 chống (Nam Tư), 2 trắng (Ấn Độ và Ai Cập) lại thông qua một nghị quyết khác kêu gọi các thành viên của LHQ “mang đến cho Cộng hòa Triều Tiên tất cả sự giúp đỡ cần thiết để đẩy lui những kẻ tiến công”. Việc đại biểu Liên Xô vắng mặt trong các cuộc thảo luận ở HĐBA từ ngày 10.1 kèm với lời tuyên bố chỉ tham gia trở lại “khi nào đại biểu của phe nhóm QDĐ bị gạt khỏi cơ quan này” đã tạo thuận lợi cho Mĩ trực tiếp can thiệp vào Triều Tiên dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc([4]).

Trước đó, ngày 25.6, Truman đã cho triệu tập một cuộc họp những người cộng sự. Ông đã thống nhất ý kiến với tướng O.Bradley, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân rằng Liên Xô “chưa chuẩn bị gây chiến, nhưng rõ ràng là muốn thử thách Hoa Kì ở Triều Tiên. Vậy đã đến lúc lên tiếng báo nguy”.

Truman đã so sánh cuộc tiến công của Bắc Triều Tiên giống như cuộc tiến công  của Nhật ở Mãn Châu, chiến tranh xâm lược của Mussolini ở Ethiopia và những hoạt động gây chiến của Hitler ở châu Âu trong những năm 30. Truman cho rằng nếu Hoa Kì không bảo vệ nổi một quốc gia được độc lập nhờ sự bảo trợ của mình, thì nhân dân ở những nước lân cận với Liên Xô, không chỉ ở châu Á mà cả ở châu Âu, Trung Đông và những nơi khác sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực..

Ngay sau đó, Truman đã ra lệnh cung cấp cho Chính phủ Seoul tất cả mọi vũ khí mà chính phủ này cần và cho phép tướng MacArthur được dùng biện pháp quân sự để chuyển giao chúng và di tản các kiều dân Mĩ khỏi Triều Tiên. Ông giao cho các bộ trưởng “chuẩn bị những mệnh lệnh cần thiết cho việc sẵn sàng sử dụng các đơn vị lính Mĩ”. Ngày hôm sau, tình hình diễn biến mau lẹ trên mặt trận quân sự đã khiến ông tin rằng “Cộng hòa Triều Tiên cần được sự giúp đỡ tức thời để tránh một thất bại hoàn toàn”, mà vốn sẽ uy hiếp Nhật, Đài Loan và căn cứ Okinawa. Cho rằng đây là “sự diễn tập trên quy mô lớn” cuộc phong tỏa Berlin, ông điện cho MacArthur để ông này dùng các lực lượng hải quân và không quân yểm trợ cho quân đội Nam Triều Tiên, nhưng không được vượt quá vĩ tuyến 38. Đồng thời, ông quyết định: đưa Hạm đội 7 vào eo biển Đài Loan để ngăn chặn bất kì một cuộc đụng độ nào khác có thể có giữa Đài Loan và Trung Quốc, mà sẽ khiến Bắc Kinh nhập cuộc; tăng cường giúp đỡ người Pháp ở Đông Dương…

Rõ ràng là Truman vẫn tiếp tục tuân thủ chính sách “chặn đứng”: nếu cần thiết, sẽ viện đến bạo lực để bảo vệ nguyên trạng, nhưng lại tránh thay đổi nó bằng quân sự. Những quyết định vừa kể đã được chính thức công bố vào ngày 27.6.  Truman cũng tuyên bố: “Cuộc tiến công vào Triều Tiên đã khiến cho người ta không còn hồ nghi gì nữa việc cộng sản đã vượt qua việc sử dụng lật đổ để chinh phục các quốc gia độc lập và giờ đây đang sử dụng xâm lược vũ trang và chiến tranh…” .

Ngày 29.6, trước tình hình ngày càng tồi tệ của Nam Triều Tiên (ngày 28.6, quân đội Bắc Triều Tiên đã chiếm Seoul), Truman quyết định đưa 2 sư đoàn bộ binh đang đóng tại Nhật sang tham chiến ở Nam Triều Tiên. Ngày 30.6, ông chấp thuận đề nghị của MacArthur về việc dùng lực lượng bộ binh Mĩ ở Triều Tiên. Ngày 4.7, HĐBA LHQ ra nghị quyết thành lập bộ chỉ huy của LHQ ở Triều Tiên và bổ nhiệm MacArthur cầm đầu bộ chỉ huy này, cho phép quân Mĩ và 15 nước khác([5]) được chiến đấu dưới ngọn cờ của LHQ.

Ngày 15.9, trong lúc quân đội Bắc Triều Tiên đã kiểm soát hầu hết miền Nam, kể cả Seoul, trừ mỗi cảng Pusan nằm ở tận Đông Nam còn kháng cự, quân đội Mĩ bất thần đổ bộ lên bãi biển Inchon (Nhân Xuyên) và khởi sự phản công mãnh liệt. Quân đội Bắc Triều Tiên bị đẩy lui mau chóng. Ngày 25.9, quân Mĩ chiếm lại Seoul và ngày 1.10, đã tiến đến sát vĩ tuyến 38. Lúc này, quân đội Bắc Triều Tiên đã rơi vào tình trạng bị bao vây hoàn toàn. Vài ngày trước đó, ngày 28.9, bộ Chính trị đảng Lao động Triều Tiên đã nhận định quân đội Bắc Triều Tiên không còn đủ sức ngăn quân đối phương vượt vĩ tuyến 38 và đã gởi thư yêu cầu Liên Xô và Trung Quốc lập tức viện trợ quân sự.

Ngày 1.10, sau khi nhận được thư vừa kể, Stalin đã gởi điện cho Mao Trạch Đông: “Nếu đồng chí cho rằng trong trường hợp khẩn cấp có thể cho bộ đội sang giúp Triều Tiên thì nên phái sang ngay ít nhất 5-6 sư đoàn đến vĩ tuyến 38 để Bắc Triều Tiên có thể dưới sự yểm hộ của các đồng chí, tổ chức chiến đấu ở phía Bắc vĩ tuyến 38. Có thể coi quân đội Trung Quốc là quân tình nguyện, dĩ nhiên do người Trung Quốc chỉ huy”. Trả lời ý kiến của Mao Trạch Đông về khả năng chiến tranh Trung-Mĩ sẽ kéo Liên Xô vào cuộc và tình hình sẽ “trở nên vô cùng nghiêm trọng”, Stalin viết: “Chúng ta sợ điều đó ư? Theo tôi, không nên sợ, vì chúng ta hợp sức lại sẽ mạnh hơn Mĩ và Anh; các nước tư bản châu Âu mà không có nước Đức (hiện Đức không thể giúp gì cho Mĩ) thì chẳng phải là lực lượng quan trọng” . Ngày 7.10, Stalin gởi cho Mao Trạch Đông một bức điện khác: “Nếu chiến tranh là không thể tránh khỏi, thì nên phát động nó ngay bây giờ”. Ông đồng thời hứa sẽ yểm trợ quân tình nguyện Trung Quốc bằng không quân.

lính Trung Hoa Dân Quốc trong chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc “xay thịt” của Mao Trạch Đông và Lâm Bưu đối với những người lính của Trung Hoa Dân Quốc đã đầu hàng hoặc ở lại Đại Lục. Sau năm 1975, Hà Nội cũng áp dụng chiêu này đối với những người lính VNCH trong cuộc chiến chống Pol Pot Khmer Đỏ.

Trước đó, ngay từ những ngày đầu tháng 8 một số viên chức cao cấp trong Chính phủ Mĩ (tướng MacArthur, đại sứ Mĩ tại LHQ, Dean Acheson, Dean Rusk (Phụ tá Ngoại trưởng đặc trách vùng Viễn Đông…) đã tính đến khả năng vượt vĩ tuyến 38. Ngày 11.9, HĐANQG Hoa Kì ra Chỉ thị 81 khuyến cáo MacArthur “chuẩn bị kế hoạch chiếm đóng Bắc Triều Tiên”, nhưng không được tiến hành những cuộc hành quân trên bộ trong trường hợp có sự xâm nhập của các đơn vị quân đội Liên Xô hay Trung Quốc. Ngày 30.9, Hoa Kì cùng một số nước khác trình ĐHĐ LHQ dự thảo nghị quyết nhắc lại mục tiêu của LHQ là thống nhất Triều Tiên và tiến hành những cuộc bầu cử nhằm thiết lập một “chính phủ thống nhất, độc lập và dân chủ” cho toàn Triều Tiên. Dự thảo yêu cầu ĐHĐ “có mọi biện pháp thích đáng để đảm bảo tình trạng ổn định trên khắp nước Triều Tiên”. Nội dung này mặc nhiên cho phép quân Mỹ vượt vĩ tuyến 38. Ngày 7.10.1950, nghị quyết này đã được ĐHĐ LHQ thông qua với 47 phiếu thuận, 5 chống, 7 trắng. Ngay ngày hôm sau, quân đội Hoa Kì vượt vĩ tuyến 38.

Trước khi nghị quyết trên được thông qua, ngày 2.10, bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai, thông qua đại sứ Ấn Panikkar tại Trung Quốc, báo cho LHQ biết rằng nếu những lực lượng của tổ chức này, ngoại trừ quân Nam Triều Tiên, xâm nhập Bắc Triều Tiên, chính phủ của ông sẽ đưa quân vào đây ([6]).

Không thay đổi Chỉ thị ngày 11.9 gởi MacArthur, ngày 9.10 Truman đã bổ sung nó bằng một bức thư đề nghị ông này, “trong trường hợp các đơn vị Trung Quốc quan trọng được sử dụng, công khai hay lén lút, không có sự báo trước, ở bất cứ nơi nào trên đất Triều Tiên”, vẫn tiếp tục hoạt động, chừng nào những lực lượng dưới quyền mình “vẫn còn cơ may chiến đấu thắng lợi”. Tuy nhiên, MacArthur đồng thời cũng nhận được chỉ thị không được có bất kì hành động gì xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc mà không có sự đồng ý trước của Washington(5).

([1])  Vào lúc cuộc chiến khởi phát (6.1950), Bắc Triều Tiên có 13,5 vạn quân chính quy và một số đơn vị bảo an. Quân đội được trang bị xe tăng T34, 150 chiến đấu cơ (tiêm kích Yak và oanh tạc Ilyushin), pháo nặng.

(2)  Quốc hội cũng có cách nhìn không khác Chính phủ. Ngày 2.5.1950, Thượng nghị sĩ Tom Connally – Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Thượng viện – đã nói ông e rằng Nam Triều Tiên có thể sẽ bị bỏ mặc. Ông nghĩ rằng Cộng sản sẽ xâm chiếm Triều Tiên, một khi họ đã chuẩn bị xong. Connally còn tuyên bố rằng Triều Tiên thực ra “không quá đỗi quan trọng. Chúng tôi đã được điều trần rằng Nhật, Okinawa và Philippines tạo thành một chuỗi phòng thủ cực kì cần thiết”.  Được tường thuật rộng rãi ở Hoa Kì và Nhật, nhận xét của T. Connally đã gây sửng sốt trong giới chức quân sự Hoa Kì đóng tại Tokyo, dù trước đó hơn một năm, trong cuộc phỏng vấn ngày 1.3.1949, tướng MacArthur người phụ trách SCAP cũng đã nêu lên quan điểm tương tự ..

([3])  Xem chi tiết trong Lê Phụng Hoàng. Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu trong Chiến tranh Lạnh (1949 – 1991), Tủ sách Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2005.

([4])  Mãi đến ngày 1.8.1950, đại biểu Liên Xô mới có mặt trở lại ở HĐBA LHQ.

(5) Đó là các nước: Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Hy Lạp, Thổ, Canada, Colombia, Ethiopia, Nam Phi, Thái Lan và Philippines. Tỉ lệ của quân đội Mỹ trong lực lượng LHQ chiến đấu ở Triều Tiên là 50,32% bộ binh, 85,89% hải quân và 93,38% không quân.

 (31)  Mãi đến ngày 13-10, sau cuộc gặp gỡ giữa Stalin với Chu Ân Lai và Lâm Bưu tại biển Đen, Trung Quốc vẫn chưa quyết định dứt khoát về việc tham chiến. Stalin đã phải khuyên Kim Nhật Thành rút toàn bộ lực lượng còn lại sang lãnh thổ Trung Quốc và Liên Xô. Cùng ngày, đại diện Liên Xô tại LHQ kêu gọi Mỹ từ bỏ chính sách “cứng rắn”, khôi phục quan hệ hợp tác với Liên Xô như trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai.
Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Bài viết bạn có thể quan tâm:
https://quanhequocte.org/doi-dau-xo-mi-va-su-thanh-lap-hai-nha-nuoc-trieu-tien/

Chia sẻ

Bình Luận