Khái niệm học thuyết Truman- “gạt bỏ chủ nghĩa cộng sản” và các thành tố chính trị và quân sự của nó.

Nội dung vấn đề:

-Những luận điểm cơ bản của khái niệm “gạt bỏ chủ nghĩa cộng sản” là gì?

-Thành tố quân sự trong khái niệm gạt bỏ.

Những luận điểm cơ bản của khái niệm “gạt bỏ chủ nghĩa cộng sản“ là gì ?

Trong những năm cuối nhiệm kỳ, Tổng thống Truman đã đẩy mạnh học thuyết của mình (Truman Doctrine), Mỹ đã siết chặt những quan điểm của mình trong chính sách đối ngoại. Điều này đã khiến Mỹ không đạt được thành tích trọn vẹn trong chiến tranh Triều Tiên cũng như khiến tình hình trong nước trở nên phức tạp (“săn phù thủy” … chứng bệnh isterie, chống phải tả và chống cộng sản, đã gây áp lực mạnh đến lập trường chính trị của chính quyền Mỹ).

Washington chăm chủ theo dõi những biến động ở Moscow, Ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng hòa không loại trừ khả năng sự thay đổi chính quyền ở Liên Xô có thể có lợi cho Mỹ. Vì vậy, Washington sẵn sàng đối thoại với Moscow, dù chỉ là với mục đích thăm dò lập trường của các nhà lãnh đạo Xô Viết mới. Phần đông các nhà phân tích Mỹ đồ rằng, sự ra đi của Stalin sẽ kéo theo sự bùng phát tranh giành quyền lực ở Liên Xô, sẽ khiến Moscow sao nhãng những hoạt động quốc tế và buộc Liên Xô tạm thời từ bỏ đường lối tiến công mà điển hình của đường lối này, theo Mỹ, là cách ứng xử của Liên Xô trong thời kỳ khủng hoảng Berlin năm 1948 và chiến tranh Triều Tiên.

Cơ quan hành chính mới lên nắm chính quyền dưới các khẩu hiệu phê phán các nhà dân chủ vì thái độ “hòa hoãn” của họ trước sự “bành trướng cộng sản”. Phe Cộng hòa coi khái niệm “kiềm chế” là không thích hợp bởi khái niệm này dường nhự đẩy Mỹ vào vai trò phòng thủ, mà chính quyền mới cho là không có hiệu quả khi phải đối mặt với “cuộc tiến công toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản“. Họ muốn đưa ra “phương án theo tinh thần tiến công để đối lập với học thuyết kiềm chế. Khái niệm “gạt bỏ chủ nghĩa cộng sản” (roll-back of Communism) thực thì vai trò này, nói cách khác, có thể gọi là khái niệm ”giải phóng” (liberation).

Lần đầu tiên, những tư tưởng cốt lõi của khái niệm mới được trình bày trong Tạp chí Life, tháng Năm 1952, trong một bài báo dưới tiêu đề “Chính sách táo bạo” của nhà hoạt động thuộc Đảng Cộng hòa Jehn Faster Dullea… Năm 1953, trong chính quyền mới của Đảng Cộng hòa, F. Dulles được bổ nhiệm vào chức ngoại trưởng. Những định đề mà ông đưa năm 1952, về nhiều mặt, đã quyết định đường lối đối ngoại hiện thực của Mỹ. Tư tưởng của J.F. Dulles là phải gây áp lực lên Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác bằng cách đe dọa giáng đòn hạt nhân tập trung. J.F. Dulles cho rằng, bằng cách đó có thể kìm hãm tính tích cực của các quốc gia xã hội chủ nghĩa và bắt họ trong chính sách đối nội của mình phải tính đến khả năng ra đòn của Mỹ. Ở đây có ý là vì “sợ hãi Washington mà các chính quyền cộng sản sẽ tiến hành chính sách đàn áp ít hơn đối với công dân của mình.

Mong rằng bản thân mỗi công dân, khi hiểu được nguyên nhân sợ hãi của chính phủ “của mình”, sẽ đấu tranh tích cực hơn nhằm chống lại chính phủ “từ dưới lên”. Nhờ thế trong các xã hội công sản, tiềm năng của các “khuynh hướng giải phóng’ sẽ tăng lên, còn xu thể đàn áp sẽ giảm xuống. Tất cả những điều đó sẽ dẫn tới “giải phóng” cho các nước xã hội chủ nghĩa thoát khỏi “ách cộng sản“, J.F. Dulles đã căn cứ vào một dẫn chứng để khẳng định cho những giả thuyết không tưởng của mình. Đó là việc Nam Tư tách ra khỏi liên minh với Moscow sau xung đột Liên Xô Nam Tư. Trường hợp của Nam Tư phải là minh họa cho khái niệm “gạt bỏ”, “để ” Liên Xô vào sâu hơn trong lãnh thổ Âu-Á, tránh xa Tây Âu, Bancăng và Cận Đông. ’

Ngày 15 tháng Một 1953, trong bài diễn văn đọc trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, J.F. Dulles đã chính thức trình bày quan điểm của mình về tình hình quốc tế. Ông tuyên bố ý đồ thay thế chính sách “kiềm chế” bằng chính sách mới “năng động hơn“. J.F. Dulles kêu gọi “giải phóng” các dân tộc ở Đông Âu và Liên Xô thoát khỏi chế độ cộng sản. Mặc dù các chuyên gia của Mỹ thấy rõ những điểm yếu trong cách tiếp cận của nhà lý luận J.F. Dulles đối với việc đánh giá hiện thực quốc tế, nhưng với việc bổ nhiệm ông vào vị trí người đứng đầu cơ quan đối ngoại Mỹ, cũng đủ cho thấy ý định sử dụng biện pháp răn đe vũ khí hạt nhân chống các đối thủ của chính quyền mới có. Từ năm 1953 cho đến khủng hoảng Caribê 1962, những tối hậu thư đe dọa trực tiếp sử dụng sức mạnh quân sự là hiện tượng phổ biến trong quan hệ giữa các cường quốc hàng đầu và trong quan hệ quốc tế nói chung.

học thuyết truman về chủ nghĩa cộng sản
Chủ nghĩa cộng sản gò bó và kiềm hãm sự phát triển cá nhân, các quyền cơ bản của con người cũng như là hạnh phúc.

Thành tố quân sự trong khái niệm “gạt bỏ” của học thuyết Truman là gì?

Cùng với khái niệm “gạt bỏ”, được hô hào đưa ra làm luận chứng chung cho chính sách đối ngoại của Mỹ, còn có hai học thuyết quân sự -“quan điểm mới” (new look) và “trừng phạt tập trung” (mass retaliation).

Ý nghĩa của học thuyết “quan điểm mới” (được trình bày trong báo cáo của Hội đồng An ninh quốc gia ngày 8 tháng Tám 1953) là ở chỗ xác nhận: thành tố hạt nhân của lực lượng vũ trang quốc gia có chi phí ngân sách ít tốn kém so với những chi phí cho các lực lượng vũ trang thông thường, trong khi việc sử dụng các lực lượng vũ trang thông thường bảo đảm hiệu quả ngang bằng với hiệu quả khi sử dụng vũ khí hạt nhân. Đó là một quan sát khuyển nho, nhưng lại chính xác. Từ đó suy ra, nước Mỹ không cần chu cấp cho quân đội quy mô lớn ở châu Âu mà chỉ cần tăng khối lượng các đầu đạn hạt nhân và các phương tiện vận chuyển chúng trên lãnh thế quốc gia của Mỹ.

Chính quyền Mỹ cho rằng, sẽ là sai lầm nếu “dàn trải“ quân đội ‘Mỹ ở các vùng ngoại biên của biên giới Liên Xô. Mỹ cho rằng cần phải thúc đẩy các nước quan tâm trực tiếp đến khả năng an ninh của chính mình, nên tập trung quân dọc theo biên giới Liên Xô. Liên Xô đã dự trù việc bị các lực lượng đồng minh của Washington nằm liền kề biên giới với mình bao vây. “Phân công lao động” được dự kiến như sau:

Các đồng minh của Mỹ phải gây áp lực với “Liên Xô bằng sức mạnh của vũ khí thông thường, còn Mỹ chịu trách nhiệm giáng đòn ”trừng phạt” vào kẻ xâm lăng tiềm ẩn từ lãnh thổ quốc gia Mỹ. Về mặt này, đối với Mỹ, việc duy trì sự hiện diện quân số đông ở châu Âu không còn mang ý nghĩa. Quân đội Mỹ ở Cựu Thế giới có thể thu hẹp lại được Đó chính là điều D. Eisenhower mong chờ.

Học thuyết “trừng phạt tập trung” (được công bố ngày 12 tháng Một 1954 trong bài diễn văn của J.F. Dulles tại New York trong Hội đồng quan hệ quốc tế), theo cách hiểu của chính quyền Mỹ, là công cụ gây áp lực tâm lý. Đối với mỗi trường hợp “bành trướng công sản”, J.F . Dulles lại đề nghị phải “đáp trả ngay lập tức, ngay lập tức theo cách nhìn nhận riêng của chúng ta” (“retaliate instantly, instantly and by means of our choosing”). Washington thông báo rằng đã sẵn sàng, trong trường hợp Mỹ bị tấn công dù chỉ là hạn chế, sẽ sử dụng toàn bộ sức mạnh tiềm lực hạt nhân để trừng phạt vì sự xâm phạm an ninh của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Khả năng leo thang xung đột thẳng đứng (“chiến lược leo thang thần tốc ” được NATO thông qua ngày 17 tháng Mười hai 1954) là vấn đề để ngỏ: mọi xung đột bất kỳ có sự tham gia của Mỹ đều có thể mở rộng thành cuộc chiến tranh lớn có sử dụng vũ khí hạt nhân. Ngưỡng cửa xung đột hạt nhân được xác lập rất thấp. Sự nguy hiểm của học thuyết này ở chỗ nó hợp pháp hóa “đòn đánh chặn” thậm chí một xung đột nhỏ với Liên Xô cũng là tiền đề để sử dụng mọi lực lượng và phương tiện của Mỹ nhằm ngăn chặn những đòn mới từ phía đối phương. Báo chí còn gọi học thuyết trừng phạt tập trung là học thuyết “đòn đánh chặn tập trung” (massive preemption).

Những cái mới của Mỹ quả là nguy hiểm. Từ mùa thu 1949 Liên Xô đã là cường quốc hạt nhân. Tháng Tám 1953, Liên Xô đã thử thành công vũ khí nhiệt hạch (bom khinh khí). Các nhà nghiên cứu phương Tây nhận xét rằng, dù Mỹ đã thử thiết bị nhiệt hạch của mình năm 1952 nhưng quả bom khinh khi “hoàn hảo ” nghĩa là sẵn sàng cho việc sử dụng, đã được Liên Xô thử nghiệm thành công trước Mỹ Tháng Năm 1954, trong màn duyệt binh ở Moscow, phòng thiết kế của A .N Tupolev đã cho trình diễn 4 máy bay vượt đại châu, có khả năng bay sang lãnh thổ Mỹ, vượt qua Bắc Cực rồi lại trở về. Tất nhiên, Mỹ vẫn giữ được thế thượng phong về số lượng đầu đạn hạt nhân và các phương tiện vận chuyển chúng.

Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

Bài viết có thể bạn quan tâm.

Giai cấp và xung đột giai cấp trong quan điểm của Marx và Engels

Trotsky: Khi nào sự biến chất của nhà nước vô sản xuất hiện?

 

Chia sẻ

Bình Luận