Điều 1 của Hiệp định Geneva và sự phân chia tạm thời 2 miền

Không đầy hai năm sau Hiệp định Geneva, ảnh hưởng của người Pháp ở Đông Dương, kể cả ở hai miền Nam và Bắc Việt Nam, hầu như không còn. Thay vào đó, người Mĩ đã gia tăng sự có mặt của họ, trước hết là ở miền Nam Việt Nam bằng cách ủng hộ Ngô Đình Diệm xây dựng một chế độ riêng biệt là VNCH, khước từ thực thi Điều 7 trong Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Geneva về Đông Dương.

Điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Geneva là Điều 1, mà nguyên văn như sau: “Một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được quy định rõ để lực lượng của hai bên, sau khi rút lui, sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến: lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ ở phía Bắc giới tuyến, lực lượng Quân đội Liên hiệp Pháp sẽ ở phía Nam giới tuyến”. Theo sự thỏa thuận của các nước tham gia Hội nghị Geneva, giới tuyến quân sự tạm thời được xác định là vĩ tuyến 17.

Khi đi đến thỏa thuận  trên, các đoàn đại biểu tham gia Hội nghị Geneva đã đồng thời đưa ra lời giải thích rõ ràng về chức năng của nó trong Điều 6 của  Tuyên bố cuối cùng: “Hội nghị chứng nhận rằng mục đích căn bản của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết các vấn đề quân sự để đình chỉ chiến sự, và giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi là một ranh giới về  chính trị hay về lãnh thổ. Hội nghị tin tưởng rằng việc thi hành những điều khoản định trong bản tuyên bố này và trong những hiệp định đình chỉ chiến sự tạo ra cơ sở cần thiết để giải quyết vấn đề chính trị ở Việt Nam trong một thời gian ngắn”.

Vấn đề chính trị ở Việt Nam” cụ thể là vấn đề gì ? “Thời gian ngắn” chính xác là bao lâu? Hai câu hỏi này được trả lời trong Điều 7 của Tuyên bố cuối cùng vốn có ý nghĩa quyết định đến số phận của đất nước và nhân dân Việt Nam: “Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những tự do căn bản,  bảo  đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết, và để thực hiện tất cả những điều kiện cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý muốn, cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát của một ban quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong ban giám sát và kiểm soát quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1955, những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó”.

Nếu Điều 1 của Hiệp định Geneva đã được hai bên kí kết thi hành “nói chung là đúng thời hạn” thì Điều 7 của Tuyên bố cuối cùng đã được các bên trực tiếp liên quan tiếp nhận với thái độ hoàn toàn trái ngược nhau ngay tại phiên bế mạc Hội nghị Geneva. Bộ trưởng Ngoại giao VNDCCH là Phạm Văn đồng đã ra tuyên bố: “Hội nghị này đã định ngày thực hiện nền thống nhất của quốc gia chúng tôi. Nền thống nhất ấy, chúng tôi sẽ thực hiện, chúng tôi sẽ giành được, cũng như chúng tôi đã giành được hòa bình. Không một sức mạnh nào trên thế giới, trong nước hay ngoài nước, có thể làm chúng tôi đi chệch ra ngoài con đường tiến đến thống nhất bằng hòa bình dân chủ. Đó là bước hoàn thành nền độc lập dân tộc chúng tôi”. Trưởng phái đoàn Quốc gia  Việt Nam là Trần Văn Đỗ đã đưa ra Tuyên ngôn chứa đựng những lời lẽ cũng rõ ràng không kém, nhưng mang nội dung ngược hẳn: “Phái đoàn long trọng phản đối việc Bộ tư lệnh Pháp, mặc dầu không được sự thỏa thuận trước của phái đoàn Việt Nam, đã tự tiện ấn định ngày  Tổng tuyển cử […]. Vì thế cho nên Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách kí kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt”. Tuyên ngôn xác định lập trường của Chính phủ Quốc gia  Việt Nam là “tự  dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập và Tự do cho xứ sở”.

Hoa Kì và chương trình chống chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam

Về phần mình, phái đoàn Hoa Kì cũng đưa ra một tuyên cáo riêng, nhưng với những lời lẽ lập lờ. Sau khi “ghi nhận” các hiệp định được kí, phái đoàn Hoa Kì hứa “sẽ kiềm chế không đe dọa hay sử dụng vũ lực để phá hoại các thỏa thuận này”, và “sẽ xem xét với mối lo ngại sâu sắc bất kì cuộc tái xâm lược nào phá vỡ những thỏa thuận trên và coi đó là hiểm họa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế”.

Về đoạn văn của Tuyên bố cuối cùng liên quan đến cuộc bầu cử sẽ diễn ra ở Việt Nam hai năm sau ngày Hiệp định được kí, phái đoàn Hoa Kì nói rằng “đối với trường hợp những quốc gia bị chia cắt bất chấp ý nguyện của họ, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm cách đạt được sự thống nhất qua con đường bầu cử tự do, dưới sự giám sát của LHQ để đảm bảo rằng cuộc bầu cử được tiến hành một cách công bằng”. Tuy nhiên, thái độ không rõ ràng này đã được những nhân vật có quyền định đoạt chính sách đối ngoại của Hoa Kì mau chóng xua tan. Ngay trong ngày Hiệp định được kí, tổng thống Eisenhower tuyên bố tại một cuộc họp báo ở Washington rằng Hoa Kì không phải là một bên kí kết, cũng không bị ràng buộc bởi các quyết định được Hội nghị Geneva thông qua vì Hiệp định chứa đựng những điểm mà Hoa Kì không tán thành. Sau khi lưu ý rằng “mọi mưu toan lặp lại hoạt động xâm lăng của cộng sản sẽ bị chúng tôi xem là một vụ việc rất nghiêm trọng”, chủ nhân Nhà Trắng còn loan báo rằng Chính phủ Hoa Kì hiện đang tích cực theo đuổi cuộc thảo luận với những quốc gia khác về việc thành lập một tổ chức phòng thủ tập thể nhằm ngăn chặn hoạt động xâm lược trực tiếp hay gián tiếp khác ở Đông Nam Á.

Tuyên bố mà người phụ trách bộ Ngoại giao Mĩ John Foster Dulles đưa ra cho báo chí hai ngày sau đó không cho phép dư luận hồ nghi chính sách mà Hoa Kì sẽ theo đuổi ở Việt Nam. Ông tuyên bố: “Điều quan trọng nhất không phải là khóc thương cho quá khứ, mà là nắm lấy cơ hội tương lai nhằm ngăn chặn không để việc mất Bắc Việt Nam cuối cùng dẫn đến chỗ chủ nghĩa cộng sản chiếm ưu thế trên toàn cõi Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương”. Ông thêm rằng khía cạnh tích cực của Hiệp định là “nó thúc đẩy quy chế thực sự độc lập của Campuchia, Lào và Nam Việt Nam”, vì thủ tướng Pháp Mendès-Franc đã hứa hoàn tất việc chuyển giao quyền lực cho các Quốc gia liên kết vào cuối tháng.

ảnh hưởng của Mỹ tại Geneva 1954
Người phụ trách bộ Ngoại giao Mĩ John Foster Dulles, người được tờ Tạp chí Times xem là có ảnh hưởng nhất lúc bấy giờ vì có quyền quyết định tương lai của nhiều dân tộc taị Châu Á.

Còn tiếp

Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ Khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

 

Bình Luận