Dân chủ kiểu Mỹ là sự xa xỉ với Việt Nam Cộng Hòa nhưng giáo dục thì hoàn toàn có thể đạt được

Tiến sĩ Phạm Văn Lưu viết như thế này trong sách của ông: Đối với Tổng thống Diệm, dân chủ kiểu Mỹ là một thứ sản phẩm xa xỉ hoàn toàn không thích hợp với một quốc gia chậm tiến như Việt Nam, đa số dân chúng hơn 80% sống ở thôn quê, còn nghèo đói, thất học, không có an ninh, luôn bị du kích cộng sản đe dọa, thì những tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử chẳng có ý nghĩa gì cả đối với họ’. Thường Dân Nam kỳ thời đệ Nhứt Cộng Hoà được Ngài Ngô Tổng Thống đánh giá như vậy, so ra với thời Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại thì có vẻ dân trí đi thụt lùi; Hay là không? Hãy tìm hiểu ở thượng tầng xã hội, những người không là Nam kỳ nghèo đói, không phải 80%  thất học thì trình độ Việt Ngữ của bản thân họ ra sao? Linh Mục Cao Văn Luận cho biết như sau trong hồi ký “Bên Giòng Lịch Sử”:

Trong mấy năm sau 1956, thỉnh thoảng tôi vô dinh, nhiều khi làm lễ trong dinh, dùng sáng với ông Diệm, soạn hoặc sửa các diễn văn cho ông Diệm. Có khi ông Diệm trao cho tôi một diễn văn bằng tiếng Pháp do ông Nhu soạn rồi nhờ tôi dịch ra tiếng Việt.

Tôi còn nhớ một chi tiết quanh một diễn văn của ông Diệm. Nhân dịp lễ Trung Thu năm 1956, tôi vào dinh một hai hôm trước. Ông Diệm đang cầm trên tay một diễn văn đã đánh máy, trao cho tôi đọc, càu nhàu:

– Cha coi, cái diễn văn này 15 thằng làm mà không ra gì cả.

Võ Văn Hải lúc đó đứng khúm núm bên cạnh,có vẻ lo sợ lắm.

Ông Diệm gọi Võ Văn Hải:

– Nè, mình lại lạy cha Luận đi, rồi nhờ ngài sửa cho.

Quay qua tôi, ông Diệm nói:

– Nhờ cha qua bên phòng Võ Văn Hải, đọc lại cái diễn văn này, thấy có gì đáng sửa, đáng thêm bớt thì cha sửa và thêm bớt giúp.

Tôi sang phòng Võ Văn Hải, đọc lại diễn văn Trung Thu, thấy cũng chẳng đến nỗi tệ gì lắm. Tuy nhiên tôi có sửa đổi vài ba câu, thêm bớt mấy chỗ rồi giao cho Võ Văn Hải cho người đánh máy lại. Ông Diệm chỉ liếc sơ rồi hôm sau lên đọc.” Ngưng trích.

Đỗ Mậu lại có viết: ‘Tuy là một nhà trí thức xuất thân từ một gia đình quan lại nhưng ông [Nhu] không chịu viết bằng tiếng Việt mà chỉ viết bằng tiếng Pháp. Chứng tỏ là về mặt tác phẩm ông chỉ viết độc nhất một bài khảo luận độ 7, 8 trang mà lại viết bằng tiếng Pháp nhan đề là “La Fête de louverture du Printemps à Hanoi sous les Le Posterieurs” và dưới thời Đệ nhất cộng hoà, hầu hết diễn văn quan trọng của ông Diệm đều do ông Nhu viết bằng Pháp văn rồi Võ Văn Hải dịch ra quốc ngữ.’ Ngưng trích.

Từ những chi tiết nêu trên trích từ sách của tiến sĩ Phạm văn Lưu, hồi ký của linh mục Cao Văn Luận, của Đỗ Mậu về khả năng tiếng Việt của các cụ Diệm, Ngài Nhu và quý bà Trần Lệ Xuân thì khi họ cho rằng 80% người Nam kỳ thất học có thể hiểu là không rành tiếng Pháp mà thôi. Bà Ngô Đình Nhu để lại cuốn nhật ký cũng viết tiếng Pháp năm 2018 có ông cựu Trung Tá Mỹ James Văn Thạch gốc Việt -Miên mua đấu giá. Bà Nhu có viết 1 bản thông cáo bằng tiếng Pháp đăng trên tờ Journal d’Extreme Orient tại Sài Gòn ngày 6.6.1963. Phó Đại sứ Mỹ Trueheart coi được giận quá gặp cụ Diệm phản đối về bài viết của bà Nhu và yêu cầu ông Diệm phủ nhận nó.  Trueheart cho rằng bài viết chọc giận thêm phía Phật Giáo, vi phạm thỏa thuận hòa hoãn giữa hai phía nhà cầm quyền Công giáo và Phật giáo đấu tranh. Cụ Diệm nóng giận hết sức với Truehraert và ra lịnh cho người ta dịch bài của bà Nhu ra tiếng Việt đăng báo cho đa số người mù chữ Pháp thất học biết coi họ tính sao.

Lời bàn: Thất vọng cho Phó Đại sứ Mỹ Trueheart, nhưng cũng lỗi tại ông, người Mỹ mà sao lại đọc được tiếng Pháp chi cho lắm chuyện?

Thời điểm đó nếu nói có 20% thượng lưu trí thức rành tiếng Pháp thì đúng là gia đình họ Ngô may mắn rơi vào thiểu số có học và rành tiếng Pháp. Không riêng ông Võ Văn Hải dịch ra tiếng Việt giúp hai Ngài Diệm, Nhu và quý bà Trần Lệ Xuân mà có cả thảy 15 vị chuyện môn dịch tiếng Việt mà cụ Diệm gọi bằng ‘15 Thằng’. 3 người không rành chữ Việt, rành chữ Quốc ngữ có 15 vị ‘15 thằng’ dịch ra chữ Việt, 3/15 thì đúng là 20% và 80% theo như lời của tiến sĩ Phạm Văn Lưu viết về quan điểm sâu sắc này. Đó là 20% có học và 80% thất học, xui sao lại là Nam kỳ thất học.  Ai viết sách lại cho chúng ta cũng có nhận định sắc bén, hay ho, thú vị, bổ ích cho hậu thế và chính xác không thua ai hết tất cả về thời kỳ 1950-60 tại Việt Nam.

Lời bàn: Ở thế kỷ 21 nhìn lại thật là mãn nhãn và khâm phục sát đất cái xã hội ngộ nghĩnh thời đó. Ước gì chúng tôi có hân hạnh sống thử 1 ngày vào thời đó coi giới thượng lưu ưu tú và dốt thất học nó ra làm sao.

Trước năm 1954 trong Nam không có Đại học, chỉ có Đại học Hà Nội mà thôi. Đại học Sài Gòn được thànhb lập năm 1955 thỏa mãn nhu cầu đào tạo chuyên gia trí thức, năm 1962 đã có 12,000 sanh viên đủ mọi phân khoa. Linh Mục Cao Văn Luận rất thân cận với Ngài Ngô Tổng thống cụ Diệm và là Viện Trưởng Viện Đại Học Huế. Linh Mục viết trong hồi ký: Bên Giòng Lịch Sử chương 36 tựa: Thời Thịnh Đạt Nhất Của Chế Độ Diệm. Được biết Nhựt ký của bà cố vấn Ngô Đình Nhu bỏ lại cũng bằng tiếng Pháp. Linh Mục Cao Văn Luận được ông Diệm giao cho nhiệm vụ thành lập viện Đại Học Huế, ông ghi lại quá trình hoạt động đó và tâm tư Tổng thống Diệm như sau:

Thành tựu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong việc cải cách giáo dục

Từ một quốc gia vừa thoát cảnh chiến tranh, các trường trung tiểu học còn thiếu thốn, ông Diệm đã nỗ lực giải quyết vấn đề giáo dục, và trong thời gian từ 1955 đến 1958 người ta thấy các trường trung tiểu học công tư mọc lên khắp nơi. Đại học Sài Gòn phát triển mạnh mẽ, và đặc biết ông Diệm đã hoàn toàn đồng ý và tích cực nhúng tay vào việc thành lập Đại học Huế.

Tại Sài Gòn, ngay từ đầu, nghĩa là từ 1959, khi đã ổn định tình hình chính trị, ông Diệm đã nghĩ đến việc đưa Đại học Sài Gòn lên khu Đại học Thủ Đức. Ông cũng nghĩ đến việc thành lập Đại học Huế, và trong những câu chuyện giữa ông Diệm và tôi nhiều lúc ông có nhắc đến dự cần thiết phải thành lập một Đại học Huế.

giáo dục Việt Nam Cộng Hòa tốt thế nào
Giáo dục miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa hướng học sinh, sinh viên với tinh thần: tổ quốc, nhân bản và khai phóng. Hoàn toàn khác với giáo dục thành tích, nhồi sọ, tuyên truyền dưới thời chủ nghĩa xã hội hiện tại.

Vào ngày mồng 3 Tết năm 1957, hình như cuối tháng giêng năm 1957, theo thường lệ ông Diệm ra Huế dự lễ giỗ cụ Khả. Tôi đến chào ông tại nhà ông Cẩn, và ngay đầu câu chuyện ông Diệm nói:

– Này cha, tôi thấy cần phải thành lập tại Huế một viện Đại học lớn, vì hai lý do chính. Thứ nhất là Huế từ trước đã là một trung tâm văn hóa của nước ta. Ở Huế đã có những truyền thống văn hóa sâu đậm, có những cơ sở văn hóa lâu đời, như trường Quốc Tử Giám, các cuộc thi cử Hán học. Dân miền Trung lại hiếu học mà nghèo, có bao nhiêu thanh niên ưu tú muốn lên Đại học mà không thể vào Sài Gòn học tiếp. Thứ hai là hiện nay dân chúng xôn xao đồn đại rằng chính phủ một ngày nào đó có thể bỏ Huế, vì hiện nay Huế không quan trọng lắm về phương diện chính trị, kinh tế. Vậy lập Viện Đại học Huế là chứng minh cách cụ thể với dân chúng, với quốc tế cũng như với bên kia rằng chính phủ nhất định bảo vệ Huế. Huế chỉ cách vĩ tuyến 17 khoảng 100 cây số, lập ở đây một Đại học lớn chẳng khác nào thách đố với bọn cộng sản. Nếu bây giờ tôi quyết định lập Đại học Huế, cha có bằng lòng giúp tôi không?

Linh Mục Cao Văn Luận đã nhận nhiệm vụ giao phó và hoàn thành tốt đẹp. Sau nhiều cố gắng của mọi người và được ông cụ Diệm khuyến khích, được Mỹ, Canada, Pháp, các tổ chức thiện nguyện như Intellectual Rescue Committee, Asia Foundation giúp tiền và hiểu biết Đại Học Huế đã hoạt động năm 1957. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã vẽ kiểu xây cất cho Đại học Huế. Kiểu xây được chính ông Diệm duyệt và cho phép. Ông Diệm có cho ý kiến là phải có chỗ cho người ở phơi quần áo. Ngô Viết Thụ văng lời, vẽ thêm phòng phơi quần áo. Chứng tỏ cụ Ngô rất tỉ mỉ chi tiết.

“Mỗi lần ra Huế, ông Diệm đều đến thăm đại học Huế, và bàn thêm với tôi về những cách thức củng cố và mở mang đại học Huế. Điều này có lúc gây ra đôi chút đố kỵ từ giới Đại học và giáo dục ở Sài Gòn thời bấy giờ, mà tôi sẽ trình bày trong việc thành lập đại học Y khoa Huế.

Nói về tình trạng thiếu bác sĩ y khoa, linh mục Cao Văn Luận cho biết: ‘Tôi từng đọc những bản thống kê về con số bác sĩ trên thế giới, thì thấy rằng tính theo dân số, tỉ lệ các bác sĩ Việt Nam còn lém hơn Phi châu. Ở Việt Nam cứ 30.000 người dân một bác sĩ, trong lúc ở Phi châu, chỉ trên 20.000 dân đã có một bác sĩ.”

Linh mục Cao Văn Luận đã từ chức Viện trưởng đại học Huế ngay sau khi anh em cụ Diệm, cụ Nhu, cụ Cẩn bị giết chết tháng 11 năm 1963.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã tóm tắt nhiều thành quả ngoạn mục trong phạm vi giáo dục đào tạo trong sách ‘Khi Đồng minh Nhảy Vào’, chúng tôi xin trích dẫn và ghi ơn tiến sĩ Hưng. Ngoài Đại học Sài Gòn, Đại học Huế còn có Đại học Công giáo tư thục Đà Lạt xây năm 1957 có 433 sanh viên năm 1962. Trường Quốc gia Nông Lâm Súc ở Bảo Lộc. Trường Tư thục vẫn nhiều như trước khắp nơi phục vụ cho giới khá giả. Trường Quốc Gia Hành Chánh trước đây Quốc Trưởng Bảo Đại cho thành lập ở Đà Lạt thì cụ Diệm cho đổi tên là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh chuyển về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes rồi lại dời về Quận 3 năm 1958. Giáo trình dạy phỏng theo giáo trình bên Mỹ qua viện trợ USAID. Ngoài ra còn có hệ thống trường kỹ thuật đào tạo chuyên viên Việt Nam thay thế cho số chuyên gia Pháp bỏ về nước. Năm 1960 đã có 20 trường kỹ thuật với 5000 học sinh. Nổi tiếng có trường Kỹ thuật Phú Thọ, Huế, Gia Định. Lớp dạy nghề như thợ bạc, thợ nề, thợ may, thợ ống nước, thợ hớt tóc, thợ hồ, thợ sơn cũng phổ thông trong xã hội. Chánh phủ cụ Diệm cấp học bổng du học qua Pháp 2,059 người, qua Mỹ 102 người sanh viên.

Lời bàn: Vào thời điểm đó người Việt Nam vẫn còn rất nhiều người chuộng Đông y, thuốc Bắc và thuốc Nam. Pháp đã đi Mỹ nhảy vô nhưng đa số sanh viên vẫn đi Pháp học là sao? Có cái gì bí ẩn trong suy nghĩ của thanh niên trí thức thời đó. Riêng chúng tôi rõ ràng thời Cộng Hòa có được lựa chọn học tiếng Anh nhưng vẫn một mực muốn học tiếng Pháp mà thôi. Giờ nhìn lại khó hiểu tại sao lại như vậy.

Cấp Tiểu học công lập thì năm 1960 đã có 4,266 trường, Trung học có 101 trường. Số giáo viên lên tới 18,000 người. Riêng trường Trung học Gia Long được biết có 5000 học sinh và 82 phòng học. Mọi hoạt động trong lãnh vực giáo dục đào tạo đều có tiền viện trợ USAID dồi dào gần như không giới hạn.

Lời bàn: Người Mỹ, đảng Cộng Hòa đã tiễn chân Pháp đi cùng với chế độ Quân chủ lập hiến cổ truyền Việt Nam để xây dựng chế độ Cộng Hoà Tổng thống chế. Họ đã biết trách nhiệm việc làm lịch sử của họ, trợ giúp phát triển ổn định cũng là một phần họ phải làm về kinh tế dễ nhứt là bơm tiền vào, kết quả ngó thấy từ bên ngoài, nếu không thì coi sao được? Quốc tế người ta dị nghị nhìn không lọt mắt.

Thành quả về Giáo dục đào tạo, kinh tế, xã hội ổn định đáng khen và đã được hai vị Tổng thống Mỹ JF. Kennedy và Ngô Đình Diệm khen qua khen lại trong công văn gửi cho nhau.

Đại Khái ông Diệm viết cho tổng thống Mỹ JF Kennedy 15.5.1961 trích đoạn: ‘..Các quan sát viên ngoại quốc thăm viếng vùng nông thôn đều đã nhìn thấy sự tiến bộ về mức sống của một số đông nông dân; áy may, xe đạp, radio, transitor, cho mỗi gia đình thuộc hoàn cảnh ít nhiều sung túc, nhà hát, rạp chiếu bóng tại những vùng chậm tiến nhất,  xuồng máy trên vô số sông rạch, xe buýt, xe ba bánh trên mọi ngã đường có thể qua lại được…

Ngược lại Tổng thống Mỹ JF Kennedy 26.10.1961 cũng khen lại ông Diệm trích đoạn: “Kính thưa Tổng thống,

“Năm 1955 chúng tôi đã quan sát những nguy cơ và khó khăn trong việc hình thành nền Cộng hòa của nước Ngài, Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn Cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bậc như một trong những nổ lực đáng được tán dương nhất và được điều hành tốt nhất trong thời hiện đại….”

 

Lời bàn: Đây là 5 năm vàng son của nền đệ Nhứt Cộng Hoà, lạc nghiệp hoan ca, Mỹ Việt thương mến nhau, khen tụng nhau hết cả lời. Người dân không những đủ ăn mà còn có rạp hát coi và radio nghe nhạc. Muốn gì hơn? Hay là sâu thẳm lòng người còn có nguyện vọng khác? Và lời nói khen ngợi của Tổng thống Mỹ đảng Dân Chủ Democrat có che đậy gì không? Ngoài ra hãy cẩn thận trước ngôn từ ngoại giao đẹp đẽ. Báo chí Mỹ vào thời điểm này không bao giờ gọi Chánh Phủ Ngô Đình Diếm ‘ Government’ mà thường gọi ‘nhà cầm quyền, chế độ ‘Diem’s Regime’. Không biết lúc đó phía Việt Nam có ai hiểu tiếng Anh để cảnh giác là người Mỹ trong làng truyền thông báo chí nhìn chúng ta thiếu ‘chính danh’. Họ gọi Regime thường có hàm ý không đẹp. Đệ tứ quyền của Mỹ ảnh hưởng lên chánh sách của chánh phủ, hành pháp, lập pháp và ảnh hưởng lên cảm nhận của người dân.

Thế hệ Ngô trào chỉ là thế hệ của cha mẹ chúng tôi, không phải xa xôi gì. Chúng tôi cảm thấy vô lý khi nói cha mẹ chúng tôi dốt quá khi mà ông bà cố sanh thế kỷ 19 vẫn biết chữ Pháp và chữ Nam âm tức chữ quốc ngữ và biết thêm ít chữ Nho. Tôi vẫn nghe bà của tôi kể chuyện Tàu do bà đọc được từ sách như Thuyết Đường, Tiết Nhơn Quý Chinh Đông v.v. Tá điền của chúng tôi ai cũng biết chữ Việt khi tôi tiếp xúc với họ. Khi chúng tôi đi học tiếng Pháp ở Sài Gòn có chị gái con người tá điền lên Sài Gòn sống để đi làm vẫn dạy chúng tôi chữ Việt. Họ là giai cấp nghèo. Tương đối nghèo, không ai nghèo tới bị đói cả. Quả là một xúc phạm và sỉ nhục đến tự ái của một dân tộc và cả một thế hệ đáng ra phải có chút kính nể của người xứ khác tới tá túc và lạm quyền. Khi có người khác chửi mình là ‘đồ thất học’ thì người bị chửi không cần đi kiếm bằng chứng để biện minh ngược lại. Bản năng tự nhiên là họ ghét và thù.

Tham khảo:

1/ Khi Đồng Minh Nhảy Vào: Nguyễn Tiến Hưng tr. 316-319

2/ Hồi ký Đỗ Mậu chương 8

3/ Lịch Sử Chính Trị Cận Đại Việt Nam: Phạm Văn Lưu tr. 418

4/ Hồi ký Linh mục Cao Văn Luận: Bên Giòng Lịch sử.

 

Tác giả: Tiến sĩ Võ Thanh Liêm

Bài viết có thể bạn quan tâm:

Mỹ Ngụy và chính sách giáo dục ngu dân ở miền Nam

Chia sẻ

Bình Luận