Tình hình kinh tế Việt Nam trước khi Đổi Mới?

Về phần mình, từ năm 1985, Việt Nam sa vào một cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính và khủng hoảng xã hội cực kì nghiêm trọng phát sinh từ thất bại của cuộc cải cách giá-lương-tiền diễn ra trong tháng 9. “Giải pháp đỏ” ra đời khi Nguyễn Văn Linh trở lại vũ đài chính trị sau cái chết của Lê Duẩn. Được nhận xét là một con người “biết điều” và khôn khéo, ông rất muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, giải quyết sớm vấn đề Campuchia để không phải duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ ở biên giới phía Bắc và phía Tây Nam.Chính việc phải duy trì một số lượng quân lớn này đã làm cho nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ và “giải pháp đỏ” được ra đời.  “Giải pháp đỏ” sẽ được trình bày ở phần cuối nhưng bạn hãy nên đọc hết để hiểu bối cảnh vì sao Hà Nội lại muốn áp dụng nó.

Trong báo cáo đọc tài kì họp thứ 10 của Quốc hội khóa VII, phó Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt nhận xét: “Cho đến quý ba năm 1985, tình hình kinh tế phát triển tốt đẹp, nhưng từ quý bốn do những thiếu sót trong việc tiến hành cải cách tiền tệ, trên thị trường đã xuất hiện những xu hướng phức tạp tác động không thuận lợi lên tình hình kinh tế và xã hội” [Nhân dân, 27.12.1985].

Khó khăn mỗi ngày thêm trầm trọng, theo như đánh giá của tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Trường Chinh, “... một loạt các sai lầm trong đợt đổi tiền và điều chỉnh giá và lương vừa qua đã gây những hậu quả nghiêm trọng, mà hiện nay chúng ta đang cố gắng khắc phục” [Nhân dân, 26.7.1986]. Một năm rưỡi sau, tình hình vẫn không được cải thiện chút nào, nếu không muốn nói là thêm xấu đi, theo báo cáo của Võ Văn Kiệt tại kì họp thứ hai của Quốc hội khóa VIII: “… đồng tiền bị mất giá, giá cả tăng lên. Số người thất nghiệp gia tăng, mức sống của những người lao động, trước hết là của công nhân viên và bộ đội liên tục giảm xuống. Những hiện tượng tiêu cực lan rộng, thu nhập theo đầu người dân sút giảm” [Novosti Vietnama. Hà Nội. Số 2/1988, tr.7].

Sau các chiến dịch đánh tư sản và phải duy trì một lượng quân lớn ở phía Bắc và Tây Nam, kinh tế Việt Nam chỉ còn là một mớ bong bóng xà phòng.

Để đối phó với lạm phát phi mã, tháng 3.1988, chính phủ đã phát hành các loại giấy bạc có mệnh giá 1000, 2000 và 5000, tương đương với 10.000, 20.000 và 50.000 trước đổi tiền (9.1985)([1]). Hậu quả của khủng hoảng tài chính càng thêm nặng nề, do mức sống quá thấp của người dân: không quá 100 USD/người/năm.

Về mặt đối ngoại, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng bị cô lập nặng nề về ngoại giao và bị cấm vận nghiêm ngặt về thương mại và kinh tế, kể từ lúc quân đội có mặt trên lãnh thổ Campuchia. Diễn biến này đã tước đi của Việt Nam cơ hội quý báu là dự phần vào sự phát triển kinh tế diễn ra với nhịp độ cao và kéo dài suốt 10-20 năm qua trong vùng châu Á-Thái Bình Dương. Trước những chuyển biến lớn lao về kinh tế trong vùng, không ít nhà quan sát thời cuộc và nhà nghiên cứu đã đưa ra dự đoán rằng thế kỉ XXI sẽ là “thế kỉ Thái Bình Dương”. Càng đáng tiếc hơn khi các nước đối đầu với Việt Nam trong vấn đề Campuchia, như ASEAN và Trung Quốc đều thụ hưởng, ở những  mức độ khác nhau, các lợi ích của sự phát triển kinh tế vừa nêu. Thêm một yếu tố khác cũng cần lưu ý là từ nửa sau năm 1985, quan hệ của các cường quốc lớn trong vùng châu Á-Thái Bình Dương – Hoa Kì, Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản – đã được cải thiện liên tục. Đây rõ ràng là yếu tố góp phần khẳng định xu thế hợp tác trong vùng.

Toàn bộ tình hình trên trong vùng châu Á – Thái Bình Dương sẽ trở thành những điều kiện thuận lợi góp phần vào nỗ lực cải thiện tình hình kinh tế của nhân dân Việt Nam, nếu chính phủ Việt Nam biết đề ra một đối sách ngoại giao phù hợp.

Đại hội VI đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong các ngày 5 – 18.12.1986 đã xác định cần tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia theo hướng hòa hợp dân tộc:”Việt Nam hoàn toàn ủng hộ lập trường của CHND Campuchia sẵn sàng đàm phán với các cá nhân và nhóm đối lập để thực hiện hoà hợp dân tộc trên cơ sở loại trừ bọn tội phạm Pol Pot. Chính phủ Việt Nam chủ trương tiếp tục rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia, đồng thời sẵn sàng hợp tác với tất cả các bên để đi đến một giải pháp chính trị đúng đắn về Campuchia” [Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NXB Sự Thật. Hà Nội, 1986, tr.108].

Ngày 20.5.1988, BCT BCHTƯ đảng Cộng sản Việt Nam  ra Nghị quyết trung ương 13 với chủ đề”Giữ vững hòa bình,phát triển kinh tế” xác định các điều kiện để giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là một nền kinh tế mạnh và quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh đến chính sách “thêm bạn bớt thù”,  điều chỉnh chiến lược ngoại giao từ “hợp tác toàn diện với Liên Xô” sang “đa dạng hóa, da phương hóa” quan hệ và nêu rõ những nhiệm vụ trước mắt của hoạt động ngoại giao: bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và góp phần giải quyết vấn đề Campuchia.

Nhưng Việt Nam làm sao lại có thể tham gia vào xu thế chung là phát triển và hợp tác, nếu tất cả các nước châu Á-Thái Bình Dương (tất nhiên là ngoại trừ CHDCND Lào và CHND Campuchia) không tán thành chính sách của chính phủ Việt Nam về vấn đề Campuchia?

Việt Nam rút quân khỏi Campuchia với hi vọng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc

Ngày 26.9.1989, Việt Nam hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia. Ngày 28, chính phủ Việt Nam ra tuyên bố đã hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia và như vậy đã dỡ bỏ một trong hai trở ngại chính gắn liền với nhau trên bước đường giải quyết vấn đề Campuchia. Tuyên bố nói tiếp: “Vấn đề then chốt còn lại là ngừng viện trợ quân sự và can thiệp từ bên  ngoài vào công việc nội bộ của Campuchia, ngăn ngừa nội chiến bùng phát và tái lập chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia”. Tuyên bố xem việc giải quyết vấn đề then chốt còn lại là nghĩa vụ của các nước và các bên liên quan [Nhân dân, 30.9.1989].

Nhưng đó lại không phải là lập trường của Bắc Kinh. Một bài xã luận đăng trên tờ Beijing Review đòi hỏi Việt Nam phải xóa bỏ hậu quả của cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia, tức chế độ Heng Samrin và đồng ý thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời bốn bên đứng đầu là Sihanouk [Beijing Review, 42/1989, tr.9]. Bên cạnh đó, Trung Quốc, Hoa Kì, Thái Lan, Singapore và cả LHQ đều tỏ thái độ hoài nghi đối với việc Việt Nam đã rút toàn bộ quân, nếu không có sự chứng thực của LHQ [Beijing Review, 42/1989; Bangkok Post  27.9 và 30.9.1989].

Ngày 16.11.1989, Kì họp thứ 44 của ĐHĐ LHQ đã thông qua (bằng 124 phiếu thuận, 17 phiếu chống và 12 phiếu trắng) nghị quyết về một giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia bao gồm: Việt Nam rút quân dưới sự giám sát của LHQ, thành lập chính phủ lâm thời 4 bên do Sihanouk cầm đầu với điều kiện không để lặp lại “chính sách và chế độ bị tất cả lên án cách đây không lâu” [Bangkok Post, 16 – 17.11.1989]. Nghị quyết này tạo thành sức ép đè nặng lên lập trường lâu nay của Việt Nam là không chấp nhận để LHQ có vai trò quan trọng trong tiến trình giải quyết vấn đề Campuchia. Khách quan mà nói đeo đuổi lập trường vừa nêu là việc làm ngày càng khó khăn cho Việt Nam, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang phải đối đầu với bao khó khăn chồng chất về đối nội và những bất lợi ngày càng nghiêm trọng về đối ngoại (không còn chỗ dựa vững chắc từ Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã ở Đông Âu và đang có dấu hiệu trượt nhanh đến chỗ sụp đổ ở Liên Xô, Việt Nam không còn quân đội ở Campuchia). Và có ý nghĩa không kém là những diến biến đáng lo ngại ở ngay tại Campuchia sau khi Việt Nam rút quân.

Sau cái chết của Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh-“con người bị đày đọa” đã tiến hành nhiều cuộc cải cách để thay đổi Việt Nam nhưng vẫn giữ được Đảng. Thật là khéo làm sao!

Như đã đề cập ở trên, sự việc Việt Nam rút quân mà không có sự giám sát quốc tế đã không được hai cường quốc có quyền lợi trong vấn đề Campuchia là Trung Quốc và Hoa Kì công nhận. Diễn biến này có nghĩa là những mặt có liên quan còn lại (ngừng viện trợ cho các phái xung đột ở Campuchia và ngăn trở Pol Pot quay lại cầm quyền ) vẫn còn để ngỏ, và hơn thế nữa sẽ ảnh hưởng xấu đến nỗ lực của Việt Nam nhắm đến bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kì.

Ngày 15.11.1988, Việt Nam chính thức đề nghị Trung Quốc tổ chức cuộc gặp cấp bộ trưởng ngoại giao để bàn về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Từ ngày 16 đến ngày 19.1.1989, vòng đàm phán đầu tiên Việt Nam-Trung Quốc cấp thứ trưởng ngoại giao đã diễn ra ở Bắc Kinh. Ngày 6.11.1989, tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Văn Linh đã gửi cho nhà lãnh đạo trong thực tế ở Trung Quốc là Đặng Tiểu Bình thông điệp miệng bày tỏ mong muốn sớm bình thường hóa quan hệ giữa hai đảng và hai nhà nước. Mãi đến ngày 12.1.1990, Đặng Tiểu Bình trả lời rằng Việt Nam cần rút hết, rút triệt để quân đội khỏi Campuchia, đồng thời giải quyết việc lập chính phủ liên hiệp lâm thời bốn bên do Sihanouk cầm đầu, Trung Quốc sẵn sàng xem xét đề nghị của Việt Nam về việc mở cuộc thương lượng cấp thứ trưởng, nếu Việt Nam chấp nhận một cơ chế giám sát quốc tế do LHQ chủ trì có 4 bên Campuchia tham gia để kiểm chứng việc rút quân Việt Nam và việc thành lập chính phủ liên hiệp 4 bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kì quá độ [7, tr.334].

“Giải pháp đỏ”, âm mưu phản bội của Hà Nội dành cho Hun Sen

Ở chốn công khai , chính phủ CHXHCN Việt Nam luôn lên án lực lượng Pol Pot và cự tuyệt bất kỳ giải pháp chính trị nào cho vấn đề Campuchia mà trong đó Pol Pot được tính như một phần của bộ máy quyền lực . Tuy nhiên, theo thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ, ngay từ nửa đầu năm 1987, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã xem xét một phương án được gọi là Giải pháp đỏ: chính phủ CHND Campuchia hoà giải trực tiếp với phe Pol Pot để lập ra một nước Campuchia XHCN đặng làm vừa lòng cả Việt Nam lẫn Trung Quốc . Trần Quang Cơ đồng thời có lưu ý rằng cha đẻ của Giải pháp đỏ thực ra là M. Gorbachev, nhưng người “bảo dưỡng” nó một cách chu đáo nhất trong suốt những năm 1987-1991 là một số nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam .

Nguyên là từ khi chế độ XHCN ở Việt Nam rơi nhanh vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đến mức giới lãnh đạo từ bỏ chính sách cũ và phải chuyển sang đường hướng được gọi là đổi mới, còn ở các nước Đông Âu và cả Liên Xô , chế độ XHCN trượt nhanh đến chỗ sụp đổ, những nhà lãnh đạo Việt Nam ngày càng nôn nóng với mong muốn bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc nhằm chung sức với nước này trong sự nghiệp bảo vệ những gì còn lại của hệ thống XHCN thế giới . Tại buổi tiếp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy diễn ra ngày 5.6.1990 ở Hà Nội , tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã phát biểu : “Trong quan hệ hai nước , 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp , có cái sai đang sửa”. Tiếp đó, Nguyễn Văn Linh ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội… Chúng âm mưu diễn biến hòa bình , mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì xã hội chủ nghĩa , nhưng lại đang có nhiều vấn đề . Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay .. Trung Quốc cần gương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội , kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”. Về vấn đề Campuchia , tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Văn Linh đã gợi ý dùng “giải pháp Đỏ” để giải quyết : “Không có lí gì những người Cộng sản lại không thể bàn với những người Cộng sản được”,” họ gặp Sihanouk còn được huống chi là gặp lại nhau”.

Hôm sau , đến lượt bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Lê Đức Anh tiếp Trương Đức Duy . Theo lời thuật lại của đại sứ Trung Quốc, Lê Đức Anh đã miêu tả thực cụ thể “giải pháp Đỏ” như sau : “Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Pol Pot . Trung Quốc và Việt Nam sẽ bàn với bạn Campuchia của mình , và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề . Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam , có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong , còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn bình thường…”. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam còn nói thêm : “Ngày xưa Pol Pot là bạn chiến đấu của tôi“. Về phần mình , chính phủ Bắc Kinh phản ứng trái hẳn với chính phủ Hà Nội . Họ bác bỏ thẳng thừng “Giải pháp Đỏ” vì nó xét thấy hoàn toàn không phù hợp với quyền lợi của Trung Quốc vốn đang mưu tìm sự trợ giúp về nhiều mặt của phương Tây cho chương trình “Bốn hiện đại hoá”.

Nếu “Giải pháp đỏ” được thông qua, không tránh khả năng Pol Pot lại  một lần nữa kiểm soát Campuchia như đã làm vào năm 1975. Đồng thời Shihanouk và các hoàng thân của ông sẽ một lần nữa phải tháo chạy bởi cuộc truy sát của lực lượng Pol Pot và tất nhiên Hun Sen và những người của ông sẽ không thoát khỏi số phận này. Trong cuốn hồi kí của mình, Hun Sen rất đề cao sự ủng hộ của Việt Nam dành cho lực lượng của ông. Thế nhưng, trong bụng ông vẫn không thể quên và bỏ qua được đề xuất “Giải pháp đỏ” mà những lãnh đạo cao cấp Hà Nội đã nuôi nén khi ông đang muốn loại bỏ hoàn toàn Khmer đỏ và xây dựng lại một nước Campuchia dân chủ.

Ghi chú:

([1])  Để hình dung phần nào tốc độ lạm phát, cần nhắc lại rằng cho đến tháng 9.1985, tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhất là 100 đồng, tương đương với 10 đồng sau đổi tiền; còn từ tháng 9.1985 đến tháng 3.1988, tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhất là 500 đồng tương đương với 5.000 đồng trước đổi tiền.

Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ, khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Chia sẻ

Bình Luận