Nội dung của Tạm ước cho thấy Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) đã đáp ứng những yêu cầu chính của Pháp: Liên bang Đông Dương, thống nhất quan thuế, tiền tệ, phối hợp giao thông, dành ưu tiên cho Pháp liên quan đến cố vấn và chuyên gia, trả lại tài sản cho người Pháp và dành cho họ sự dễ dàng trong sinh hoạt kinh tế. Về phần mình, Pháp tái khẳng định cam kết tổ chức trưng cầu dân ý ở Nam Kì và chấm dứt chiến sự vào ngày 30.10.1946. Tuy nhiên, những lần gặp mặt và thương thuyết giữa VNDCCH và Pháp không đi đến một giải quyết hòa bình. Và người Pháp dần nghĩ ngay đến Bảo Đại, như một giải pháp để kiềm hãm sự “nhiễm đỏ cộng sản” của Việt Nam nói riêng và Liên Bang Đông Dương nói chung

Một tuần sau khi Tạm ước được kí, Marius Moutet đã gửi cho d’Argenlieu Chỉ thị chính trị nêu rõ: “Nếu Tạm ước phải được phía chúng ta thi hành nghiêm chỉnh thì trước hết chính là  để khơi động một sự giảm bớt căng thẳng, để nhờ vào đó chúng ta cần xem xét lại toàn bộ chính sách  của mình. Chúng ta cần cố gắng khơi dòng cho sự hòa dịu đó ngay từ bây giờ và tránh mọi động thái có thể đầu độc quan hệ Pháp – Việt trước ngày Tạm ước có hiệu lực, tức 30.10.1946… Thực tế, chúng ta không được phép tính đến một chính sách bạo lực với hi vọng thành công vì khả năng quân sự hiện nay và sau này của ta có hạn…

Chính phủ đã quyết định thi hành tại Nam Kì một chính sách có tính chất dân chủ thực sự vì đó là chính sách duy nhất có thể cải thiện tình hình địa phương ở Nam Kì, nhưng cũng cần thiết để giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam nói chung.

Nhiệm vụ của Ngài là cho thi hành càng nhanh càng hay Điều 9 của Tạm ước, là điều khoản nhằm thiết lập những quyền tự do dân chủ ở Nam Kì (…). Chính phủ Pháp không sợ sự phát triển của một nền dân chủ thực tình tại Nam Kì, ngay cả khi một chế độ tự do như vậy sớm muộn sẽ dẫn đến sự thống nhất ba kì, dưới hình thức này hay hình thức nọ”

Ngày 1.10, bộ Quốc phòng đã gửi đến d’Argenlieu chỉ thị kí những hiệp định tham mưu với phía Việt Nam để bổ sung Tạm ước. Như vậy, Paris đã chỉ thị cho viên cao ủy Pháp ở Đông Dương nghiêm túc thực hiện Tạm ước, nhất là ở nội dung đình chỉ chiến sự ở Nam Kì và Nam Trung Kì, nhằm tạo bầu không khí thuận lợi tiến đến kí bản hiệp định chung cuộc, lôi kéo Việt Nam vào Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.

Các thỏa thuận giữa chính quyền Pháp và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa đạt được những kết quả mong muốn vì xung đột lợi ích giữa hai bên.

Tuy nhiên, cơ hội để hai bên tiếp tục đàm phán ngày càng bị thu hẹp do những cuộc đụng độ quân sự diễn ra ngày càng nhiều, nghiêm trọng nhất là vụ Pháp bắn phá Lạng Sơn ngày 27.10.1946, Hải Phòng ngày 23.11.1946. Những cuộc xung đột vừa nêu đã đẩy quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và các giới chức Pháp có mặt ở Việt Nam đến bờ vực của chiến tranh. Tại cuộc họp của Ủy ban liên bộ Đông Dương diễn ra ngày 23.11, d’Argenlieu đang có mặt ở Paris đã đề nghị “ngừng thi hành Tạm ước” và ln tiếng trách Chính phủ đã không kiên quyết trong vấn đề Nam Kì.

Vài ngày sau, Valluy, Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, người đang tạm quyền thay d’Argenlieu trong thời gian ông này về Pháp, đã gửi điện về Paris xin thêm viện binh. Ngày 6.12, Valluy gửi điện về Paris xin được dùng vũ lực mở đường Hà Nội – Hải Phòng. Tuy nhiên, các giới chức có thẩm quyền ở Paris đã không đồng ý. Ngày 11.12, Moutet báo cho Valluy biết chính phủ không thể tăng viện cho Đông Dương và giao cho Sainteny – ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc bộ – nhiệm vụ thuyết phục Hồ Chí Minh cải thiện tình hình. Sau đó, Chính phủ mới xem xét có nên bổ sung quân viện không.

Về phần mình, Chính phủ Việt Nam cũng cố tìm cách vãn hồi tình hình và liên tiếp đưa ra nhiều đề nghị nhằm giải tỏa tình trạng căng thẳng trong quan hệ với giới chức Pháp ở Việt Nam. Ngày 15.12, Hồ Chí Minh nhờ Sainteny chuyển một bức điện cho Chính phủ Pháp, trong đó ông đưa ra những đề nghị sau: phía Việt Nam sẽ yêu cầu dân chúng hồi cư và vãn hồi đời sống kinh tế bình thường, lập lại giao thông bình thường trên các trục chính, dân chúng sẽ hủy bỏ các biện pháp tự vệ; phía Pháp trở lại các vị trí trước ngày 20.11, chấm dứt càn quét và khủng bố ở Nam Bộ và Nam Trung bộ; hai bên thỏa thuận đưa vào hoạt động các ủy ban thi hành Tạm ước ở Hà Nội và Sài Gòn. Tuy nhiên, mãi đến 20.12 bức điện mới được chuyển đến Paris.

Từ ngày 17.12, các đơn vị quân Pháp tiến hành nhiều hoạt động càn quét, gây hấn và khiêu khích ở Hà Nội. Ngày 19.12.1946, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp.

Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ

Trách nhiệm để cho chiến tranh Việt – Pháp  bùng nổ trước hết thuộc về giới thực dân ở Đông Dương, mà đại diện là cao ủy d’Argenlieu, nhưng lại là diễn biến nằm ngoài ý đồ của Paris. Chiều ngày 20.12, sau khi được tin chiến sự đã khởi diễn, thủ tướng Blum đã gửi, qua trung gian tướng Valluy( quyền cao ủy Đông Dương) đến Hồ Chí Minh một bức điện, trong đó có đoạn: “Chúng tôi nhấn mạnh rằng cần ra ngay lệnh  đình chỉ xung đột. Đại diện Chính phủ sắp đến. Chúng tôi mong muốn duy trì hòa bình và thi hành các hiệp định nếu là trung thực. Không một sự vi phạm nào được chấp nhận”. Blum đã đề nghị Leclerc – một người có quan điểm ôn hòa về vấn đề Việt Nam và vừa trở về Paris sau chuyến đi thị sát tình hình ở Việt Nam – sang làm tổng tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương, rồi sau đó kiêm cao ủy. Nhưng ông này đã từ chối . Bản thân Blum cũng không cầm quyền được lâu.

Ngày 11.3.1947, Paul Ramadier (trở thành thủ tướng Pháp ngày 17.1.1947) tuyên bố: “Nước Pháp không sợ sự thống nhất ba kì An Nam nếu đúng là nguyện vọng của nhân dân, và cũng không sợ chấp nhận độc lập của Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp và Liên bang Đông Dương”. Tân thủ tướng Pháp đã cử sang Đông Dương một cao ủy mới: Emile Bollaert, một người không thạo tình hình Đông Dương và cũng không thực tâm tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Ngày 12.5.1947, tại thị xã Thái Nguyên đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Paul Mus, cố vấn của Bollaert, và Hồ Chí Minh. Đại diện Pháp đã nêu các điều kiện để đi đến ngừng bắn và thương lượng, cụ thể là phía Việt Nam phải chấm dứt ngay mọi hành động đối địch, khủng bố và tuyên truyền, và nộp một phần quan trọng vũ khí; quân Pháp được tự do đi lại trong phần lãnh thổ do Việt Nam kiểm soát; hai bên trao trả con tin, tù binh và hàng binh. Đánh  giá đây là các điều kiện buộc phải đầu hàng, Hồ Chí Minh đã bác bỏ.

 Giải pháp Bảo Đại

Sau cuộc tiếp xúc không kết quả nói trên, chính quyền Pháp ở Đông Dương từ bỏ hẳn con đường đàm phán với chính phủ Hồ Chí Minh và khởi sự xúc tiến một kế hoạch khác: mở cuộc tiến công vào chiến khu Việt Bắc nhằm, theo báo cáo mà Valluy, tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương, gửi thủ tướng Ramadier mùa thu năm 1947: “Vô hiệu hoá, thậm chí bắt chính phủ Hồ Chí Minh, để thương lượng trên thế mạnh với Bảo Đại và thành lập dưới sự chỉ đạo của Bảo Đại một chính phủ được chúng ta thừa nhận và chống lại các lãnh tụ Việt Minh bị dồn vào thế phiến loạn”. Như vậy, kế hoạch gồm hai phần: một cuộc tiến công quân sự lớn được gọi là Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 và giải pháp Bảo Đại.

Tuy Ramadier từ chức và ngày 22.11.1947, Robert Schumann lên thay, giải pháp Bảo Đại vẫn được Paris tiếp tục. Sau hai lần dàn xếp không thành bất chấp các hiệp định Hạ Long được kí ngày 7.12.1947 và 5.6.1948, ngày 8.3.1949, tại điện Élysée (dinh tổng thống Pháp), Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol kí Hiệp định Élysée dưới dạng một loạt các bức thư mang chữ ký của hai người. Nội dung của  Hiệp định là: Pháp công nhận Việt Nam là nước độc lập với tư cách là nước liên kết trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp (chính phủ trung ương Việt Nam có cố vấn chính trị Pháp bên cạnh); Việt Nam có tổ chức hành chính, tư pháp, quân đội riêng (với huấn luyện viên là người Pháp); quân đội Liên hiệp Pháp được đóng trên đất Việt Nam và được hoàn toàn tự do hành động; lúc có chiến tranh, tất cả quân đội Việt Nam đặt dưới sự chỉ huy của người Pháp; đồng tiền Việt Nam phụ thuộc vào đồng franc, quyền phát hành giấy bạc vẫn ở trong tay Ngân hàng Đông Dương; tất cả các trường đại học Việt Nam dùng tiếng Pháp; sự thống nhất Nam Bộ vào Việt Nam được thực hiện sau khi trưng cầu ý kiến dân Nam Bộ hay những người đại diện cho họ và phải được Nghị viện Pháp chấp thuận([1]); hoạt động ngoại giao của Việt Nam sẽ gắn với các hoạt động ngoại giao của Liên hiệp Pháp; các trưởng đoàn ngoại giao nước ngoài sẽ trình thư ủy nhiệm cho tổng thống Pháp và hoàng đế Việt Nam; các trưởng đoàn ngoại giao Việt Nam sẽ nhận thư ủy nhiệm của tổng thống Pháp với chữ kí của hoàng đế Việt Nam; chính quyền Việt Nam chỉ được phép lập đại sứ quán ở Thái Lan, Trung Hoa dân quốc và Tòa thánh Vatican; tiếng Pháp là ngôn ngữ dùng trong hoạt động ngoại giao của Việt Nam.

Ngày 1.9.1949, Quốc gia Việt Nam được tuyên bố thành lập ở Sài Gòn với Bảo Đại là quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân là thủ tướng, du mãi đến ngày 29.1.1950, Hiệp định Élysée mới được Hạ viện Pháp phê chuẩn. Bằng hành động này, Pháp xem như đã chính thức từ bỏ chủ quyền đối với Việt Nam.

Ghi chú:

([1])  Thực ra một không cuộc trưng cầu dân ý nào được tổ chức cả. Ngày 4.6.1949, tổng thống Auriol đã kí Luật 49-733 chấm dứt quy chế thuộc địa của Nam Bộ và trả vùng đất này lại cho chính phủ Bảo Đại.

Bình Luận