Con người là “những cá nhân”; cá nhân trong cuộc cạnh tranh với nhau; tự do lựa chọn; chính trị là vũ đài nhằm bảo vệ quyền lợi cá nhân, bảo vệ ”cuộc sống, tự do và điền sản”; nhà nước dân chủ là cơ chế hiến định nhằm tạo ra khung pháp lí cho việc theo đuổi các sáng kiến cá nhân trong xã hội công dân và những mối quan tâm chung về “quá trình quản lí”: tất cả đều là những ưu tư của truyền thống dân chủ tự do. Marx và Engels không phủ nhận sự kiện là mỗi người đều có những khả năng và khát vọng riêng cũng như đều muốn được tự do lựa chọn; nhưng họ tấn công tư tưởng cho rằng xuất phát điểm của việc phân tích về đời sống chính trị và hình thức tổ chức xã hội đáng ao ước nhất lại là cá nhân và quan hệ của ông/bà ta với nhà nước. Như Marx viết: “Con người không phải là khái niệm trừu tượng nằm ngoài thế giới. Con người là thế giới loài người, là nhà nước, là xã hội (The Critique of Hegel’s Philosophy of Right, trang 131). Cá nhân chỉ tồn tại trong tương tác và quan hệ với các cá nhân khác; bản chất của họ phải được coi là sản phẩm mang tính lịch sử và xã hội. Đó không phải là một cá nhân đơn lẻ, tách biệt, hoạt động trong các tiến trình lịch sử và xã hội mà là những người sống trong những quan hệ xác định với những người khác, và bản chất của họ lại được quyết định thông qua những quan hệ đó. Một cá nhân hay một hoạt động xã hội hoặc một thiết chế (trên thực tế, mọi khía cạnh của đời sống con người) đều chỉ có thể được giải thích một cách đúng dân dưới dạng tương tác mang tính lịch sử của nó với những hiện tượng xã hội khác, là một quá trình biến đổi và chuyển động của những thành tố gắn bó chặt chẽ với nhau.

Theo Marx và Engels, cơ cấu giai cấp chính là chìa khóa cho việc tìm hiếu quan hệ giữa con người với nhau (xem Gidens and Held, 1982, trang 12-39). Họ khẳng định rằng, không phải mọi hình thức xã hội đều phân chia thành giai cấp: giai cấp là sản phẩm của lịch sử và sẽ biến mất trong tương lai. Các hình thức xã hội bộ lạc” sớm nhất là nhưng xã hội phi giai cấp. Đó là do trong các xã hội này chưa có sản phẩm thặng dư và chưa có sở hữu tư nhân: sản xuất dựa trên cơ sở nguồn lực của công xã và thành quả của hoạt động sản xuất được phân phối cho cả cộng đồng. Việc phân chia giai cấp chỉ xuất hiện khi xuất hiện thặng dư, đủ để giai cấp của những kẻ không sản xuất có thể sống dựa vào hoạt động sản xuất của những người khác. Những kẻ nắm quyền kiểm soát phương tiện sản xuất tạo thành giai cấp chi phối hay giai cấp cầm quyền cả về chính trị lẫn kinh tế. Như vậy, theo Marx và Engels, quan hệ giai cấp nhất định phải là quan hệ người bóc lột người và đưa đến sự chia tách lợi ích giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Phân chia giai cấp, hơn nữa, vốn đã mang tính xung đột lại thường thúc đẩy cuộc đấu tranh giai cấp ngày một mạnh mẽ thêm.

đấu tranh giai cấp
Marx tin rằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là giai đoạn lớn cuối cùng trước khi loài người bước vào một trật tự kinh tế và chính trị hoàn toàn mới: chủ nghĩa cộng sản, trong đó lí tưởng về tự do và bình đẳng sẽ được thực hiện hóa một cách từ từ.

Thật ngạc nhiên và cần phải nhấn mạnh ngay từ đầu rằng Marx hầu như không viết về quan hệ giữa bóc lột giai cấp và bóc lột phụ nữ. Nhưng Engels đã thực hiện một cuộc tấn công như thế trong tác phẩm The Origins of the Family, Private Property, and the State. Trong tác phẩm này, ông đã cố gắng liên kết cội nguồn của ưu thế về giới tính với sự xuất hiện của tài sản tư nhân và đặc biệt là sở hữu tư nhân đối với phương tiện sản xuất, và đến ; lượt nó lại được coi là điều kiện cho sự phát triển của nhà nước. Theo Engels, khởi thủy xã hội vốn là mẫu quyền: đàn bà có nhiều quyền lực hơn đàn ông. Nhưng quan hệ về giới như thế đã bị đảo ngược cũng với sự hình thành tài sản tư nhân. Mặc dù quan niệm của Engels về diễn biến của quá trình này không được rõ ràng lắm, ông đã gắn kết trực tiếp nó với sự xuất hiện của tài sản tư nhân, như thế là gắn kết trực tiếp với sự xuất hiện giai cấp, vì đàn ông được coi là có uy lực hơn trong việc bảo vệ quyền thừa kế. Vì thế, hiện tượng bóc lột giới, trong phân tích của Engels được giải thích như là một nhánh của hiện tượng bóc lột mang tính giai cấp.

Gia cảnh cá nhân hiện đại dựa trên sự nộ dịch phụ nữ một cách công khai hoặc đã được ngụy trang… Ngày nay, trong phần khi trường hợp, đàn ông phải là người kiếm tiền, là trụ cột chính của gia đình… và điều đó tạo cho ông ta địa vị thống trị mà không cần phải có những ưu đãi đặc biệt về mặt luật pháp. Trong gia đmh, ông ta là nhà tư sản, còn vợ là giai cấp vô sản (Engels, The Origins of the Family, Private Property and the State, trang 510).

Engels không hề do dự khi rút ra ngụ ý từ quan điểm này: sau giai đoạn tư bản chủ nghĩa, nghĩa là sau khi không còn phân chia giai cấp nữa, thì bóc lột giới cũng không còn. Ông tin rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã mở đường dẫn đến việc loại bỏ bóc lột về giới, vì hình thức tước đoạt chủ yếu mà người phụ nữ phải chịu trong xã hội tư bản chủ nghĩa, tức là không được tham gia một cách bình đẳng vào lực lượng lao động, sẽ được khắc phục bằng việc gia tăng số phụ nữ tham gia vào số người làm công ăn lương. Trong xã hội tương lai, bình đẳng trong việc tham gia và sản xuất sẽ là cơ sở cho quyền bình đẳng trong những lĩnh vực khác. Engels và Marx có quan điểm tương tự về bất bình đẳng chủng tộc. Đối với các ông thì giai cấp và đấu tranh giai cấp là cơ chế chủ yếu hay “động lực” của sự phát triển của lịch sử

Nguồn: Models of Democracy, Polity Press Publisher, 2006, David Held.

 

Bình Luận