Cuộc cách mạng Cuba của Fidel Castro mang lại những hậu quả quốc tế như thế nào?

Cuba không nằm trong số những quốc gia ở Tây bán cầu có nền chính trị ổn định cho đến khi xảy ra cuộc cách mạng của nhà lãnh đạo Fidel Castro. Cuối những năm 1950, nhà độc tài fulgencio Batista, lãnh đạo hòn đảo này, là người cướp chính quyền bằng đảo chính quân sự năm 1952, lật đổ Tổng thống Carlos Prío Socarrás. Mỹ đã chấp nhận quyền lãnh đạo của nhà độc tài, mặc dù không tán thành chính sách đàn áp trong nước. Nhằm mục đích buộc F. Batista phải nới lỏng chính sách, chính quyền Mỹ đã gây áp lực bằng những chế tài: từ mùa xuân 1958, Mỹ ngừng bán vũ khí cho Cuba mà nhà độc tài này dùng để chống lại lực lượng đối lập Cuba.

Một trong số những đối thủ của F. Batista là nhà cấp tiến Fidel Castro Ruz, 32 tuổi. Năm 1953, Fidel Castro đã thực hiện cuộc khởi nghĩa chống F. Batista, bị bắt, nhưng sau đó được ân xá. Sau sự kiện này, Fidel Castro sống lưu vong, đầu tiên ở Mỹ, sau sang Mêhicô. Năm 1956, Fidel Castro bí mật trở về Cuba và cùng một nhóm các đồng chí cố thủ ở các vùng miền núi, bắt đầu cuộc chiến tranh du kích chống F. Batista. Quân du kích được sự ủng hộ của nhân dân. Việc cấm vận nguồn cung vũ khí do Mỹ áp đặt đối với chế độ F. Batista đã tiếp sức cho quân du kích. Cuối năm 1958, các đơn vị của F. Castro bắt đầu tấn công thắng lợi vào Habana, F. Batista phải chạy sang Cộng hòa Dominican. Tháng Một 1959, sau khi chiếm được thủ đô, Fidel Castro đã thực sự là người đứng đầu chế độ mới.

Khi lên nắm chính quyền, Fidel Castro không phải là người Cộng sản mà là nhà dân tộc chủ nghĩa, với khát vọng “giải phóng dân tộc” cho toàn Mỹ Latinh bằng con đường vũ trang, cách mạng. Tuy nhiên, trong giới thân cận của Fidel Castro có những người thuộc phe “cánh tả chân chính”, như nhà marxist Che Guevara, họ ủng hộ những khuynh hướng cấp tiến nhất của Fidel Castro.

Thoạt đầu, Washington không có thái độ thù địch đối với việc khẳng định chính quyền  Fidel Castro. Chính phủ mới của Cuba cũng tự hạn chế không tuyên truyền chống Mỹ. Những bất đồng giữa Washington và Havana chỉ bắt đầu gia tăng từ cuối năm 1959, khi Fidel Castro tiến hành những vụ trấn áp quyết liệt chống những người theo chính phủ đã bị lật đổ, và từ việc trấn áp đã chuyển thành đàn áp phong trào đối lập nói chung.

Dòng người Cuba ồ ạt chạy sang Mỹ. Họ định cư ở bang Florida và trở thành một công đồng tại đó, gây sức ép dư luận xã hội Mỹ theo tinh thần chống Castro. Nhằm gây ảnh hưởng đến Havana, Mỹ lại sử dụng biện pháp trừng phạt Cuba, tăng cường lệnh cấm vận hơn nữa bằng cách cấm nhập khẩu đường của Cuba. Đường là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Cuba, do vậy những biện pháp này được xem là một đòn đau giáng vào nền kinh tế Cuba. Thêm vào đó, các công ty Mỹ bắt đầu cắt giảm số lượng dầu bán cho Cuba.

Nhằm trả đũa, năm 1960, Chính phủ Cuba đã mua vũ khí của Liên Xô. Liên Xô cũng đồng ý cung cấp cho Cuba nhiên liệu năng lượng. Đồng thời, ở trong nước, Cuba tiến hành quốc hữu hóa các cơ sở hóa đầu thuộc các công ty của Mỹ. Quan hệ giữa Havana và Washington bắt đầu căng thẳng.

Các sự kiện trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng Caribê khi Fidel Castro đồng ý cho Liên Xô bố trí tên lửa phát triển như thế nào?

Những cuộc khủng hoảng ở Cận Đông và ở châu Âu đã làm mọi người lãng quên tình hình ở Tây bán cầu. Hơn nữa việc Đảng Dân chủ lên nắm quyền ở Mỹ đã dẫn tới quan hệ Mỹ Cuba xấu đi, bởi chế độ Fidel Castro ở Habana được cho là chế độ đàn áp, trong khi Đảng Dân chủ lại khá nhạy cảm với vấn đề quyền con người. Tính đến hoàn cảnh đó, kiều dân Cuba ở Mỹ. tập trung ở bang Florida, ngay sát Cuba, bắt đầu gây sức ép lên J. Kennedy nhằm thúc đẩy phải đưa ra biên pháp lật đổ Fidel Castro. Cộng đồng kiều dân Cuba đã tính đến việc là trong giai đoạn chạy đua trước bầu cử với D. Eisenhower năm 1960,  Kennedy đã nhiều lần chỉ trích Đảng Cộng hòa là “nhu nhược với Cuba” và như vậy là tự hạn chế khả năng của minh trong việc thay đối lập trường đối với Cuba.

Quan hệ Moscow-Habana ngày càng được củng cố, biểu hiện cho sự nồng ấm này là cuộc gặp giữa N.S. Khrushchev và Fidel Castro tại New York trong thời gian diễn ra kỳ họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc về phi thực dân hóa tháng 12 năm 1960. Trong cuộc gặp không chính thức của lãnh đạo hai nước, trước sự hiện diện của các nhà báo ngoài hành lang, N .S. Khrushchev đã không ngần ngại biểu đạt với ý rằng nếu Mỹ tự cho phép mình tấn công Cuba thì “họ sẽ nhận đáp trả một trận mưa tên lửa của Liên Xô”. Mặc dù nhà lãnh đạo Liên Xô đã ngay lập tức nói thêm rằng đó là ông nói một cách hình tượng, những phát ngôn của ông đã được tung lên mặt báo và là cơ sở cho nhiều cuộc đầu cơ (chính trị).

Đối với Washington, quan hệ không mấy thiện cảm đối với Cuba là nguồn cơn của sự kích động, bởi “cái mũi gai Cuba” đã cản trở Mỹ thể hiện trong vai trò “người bạn tốt” của các nước Mỹ Latinh. Giới lãnh đạo Cuba chỉ trích đường lối của Mỹ, trong khi các đại diện Mỹ lên án Cuba tiến hành chính sách chống Mỹ. Tháng 1 năm 1961, Habana trục xuất các nhà ngoại giao Mỹ, đáp lại, Mỹ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Cuba.

Tháng Tư 1961, xung đột Mỹ -Cuba trở nên căng thẳng hơn. Ngày 17 tháng Tư, các đơn vị vũ trang là những kiều dân Cuba lưu vong với số lượng gần 1,5 ngàn người đã từ Florida đổ bộ lên bờ biển Cuba thuộc khu vực Playa-Giron (bờ vịnh Cachinos) nhằm lật đổ Fidel Castro. Tuy nhiên, các đơn vị phiến quân này đã bị lực lượng an ninh Cuba đập tan trong vòng 48 giờ. Cuộc đảo chính bất thành. Vào thời điểm đó, các lực lượng vũ trang Cuba có tới 250 ngàn người. Âm mưu đảo chính này là một chiến dịch đặc biệt được CIA Mỹ dàn dựng một cách vụng về. Nhưng nó cũng khiến Fidel Castro phải lo lắng và Fidel đã có cuộc hội đàm với Liên Xô về việc yêu cầu Liên Xô viện trợ quân sự. Tháng Mười hai 1961, nửa năm sau âm mưu đảo chính, lần đầu tiên Fidel Castro tự xưng là nhà marxist, rồi sau đó là nhà cộng sản.

Tháng Một 1962, dưới sức ép của Mỹ, Cuba bị khai trừ ra khỏi Tổ chức các quốc gia châu Mỹ. Quyết định này được thông qua nhưng không đạt được sự nhất trí: các nước đứng đầu Mỹ Latinh (Braxin, Áchentina, Chilê, Mêhicô, Êcuađo và Bôlivia) do nắm được tình hình rối rắm đó nên đã bỏ phiếu trắng về dự thảo quyết định này.

Từ tháng Một 1962, Liên Xô tăng cường viện trợ quân sự cho Cuba, xuất phát từ mối đe dọa từ phía Mỹ. Ban lãnh đạo Xô Viết theo đuổi những mục tiêu chiến lược. Liên Xô cảm thấy dễ bị tổn thương trước “nguy cơ tên lửa” của Mỹ do các tên lửa “Jupiter” của Mỹ đặt ở Thổ Nhĩ Kỳ có thể hủy diệt các mục tiêu trên phần lãnh thổ châu Âu của Liên Xô, trong khi Liên Xô lại không có căn cứ đầu cầu nào có khả năng ngắm tới lãnh thổ của Mỹ.

Fidel Castro chống lại nhà độc tài F.Batista
Thay vì đưa ra các chính sách cải cách, chính quyền F. Batista lại tăng cường việc đàn áp nhân dân Cuba. Đây là điều kiện cần và đủ cho cuộc cách mạng dân chủ của Fidel Castro diễn ra.

Các sự kiện trong giai đoạn hai của cuộc khủng hoảng Caribê (thời kỳ Liên Xô bố trí tên lửa tại Cuba) phát triển như thế nào?

Đến tháng Mười 1962, Liên Xô đã vận chuyển bằng các tàu biển dân sự sang Cuba các loại tên lửa và bệ phóng đã được lắp ráp và sẵn sàng chiến đấu dưới danh nghĩa máy móc và thiết bị công nghiệp và nông nghiệp. Trên hòn đảo Cuba, 42 quả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đã được bố trí cùng với đội quân phục vụ 40 ngàn người. Mãi đến ngày 14 tháng Mười, các phương tiện do thám hàng không của Mỹ mới phát hiện được các trạm tên lửa này. Việc kiểm tra các bức ảnh chụp đã khẳng định tính chính xác của thông tin nhận được và phía. Mỹ đã yêu cầu Liên Xô đưa ra lời giải thích và đòi Liên Xô phải rút ngay các tên lửa ra khỏi Cuba.

Ngày 18 tháng Mười 1962, Bộ trưởng Ngoại giao A.A. Gmmyko có chuyến công du sang Washington. Trong cuộc trao đổi với Tổng thống  Kennedy, Gromyko đã phủ nhận sự hiện diện các tên lửa của Xô Viết trên đất Cuba, mặc dù có thừa nhận việc Liên Xô cung cấp cho Cuba những vũ khí mang tính chất phòng thủ. Phía Mỹ đã đưa ra những dữ liệu ảnh chụp từ trên không. Moscow buộc phải thừa nhận là có bố trí các trạm tên lửa nhưng không chấp nhận rút đi. Mọi việc bắt đầu sáng tỏ rằng, các tàu dân sự của Liên Xô sang Cuba, theo thông tin tình báo của Mỹ, đều vận chuyển tên lửa Liên Xô. N .S. Khrushchev và Kennedy đã gửi thư trao đổi tranh luận, trong đó mỗi bên đều cố đưa ra lập luận về lập trường đúng đắn của mình. Moscow kiên nhẫn, còn Washington thì chuẩn bị cho những gì xấu nhất.

Ngày 22 tháng Mười, thông qua truyền hình, Tổng thống J. Kennedy kêu gọi toàn dân với lời cảnh báo về khả năng nổ ra chiến tranh với Liên Xô. Các lực lượng vũ trang Mỹ được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Phía Liên Xô nhận được thông báo rằng, bất kỳ một quả tên lửa nào được phóng từ lãnh thổ Cuba đều được xem là ngòi nổ chiến tranh. Đồng thời, chính quyền Mỹ cũng thông báo về việc “cách ly kiểm dịch ” các cảng biển của Cuba, nghĩa là chủ định khám xét tất cả các lô hàng được vận chuyển đến Cuba bằng đường biến, bất luận là tàu treo cờ nước nào. Thực chất, điều này đồng nghĩa với việc tuyên bố phong tỏa hòn đảo. Tuy nhiên, trong công pháp quốc tế, việc phong tỏa bị coi là hành động xâm lược nên giới ngoại giao Mỹ “đã tránh dùng thuật ngữ đó mà chỉ dùng từ “cách ly kiểm dịch”.

Các tàu của Liên Xô chở tên lửa vẫn tiếp tục nhằm hướng cảng biển Cuba. Các lực lượng vũ trang Liên Xô cũng được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Việc các lực lượng vũ trang Mỹ mưu toan muốn chặn đứng các tàu Liên Xô cũng có thể là nguyên có chiến tranh. Sự leo thang xung đột ngược lại đã xảy ra. Cả hai phía đối địch lẫn nhau và đều không biết bằng cách nào thoát ra khỏi ngõ cụt.

khủng hoảng tên lửa cuba
Nhiều cuộc gặp và thư từ giữa hai nhà lãnh đạo đã diễn ra nhằm giải quyết và đi đến sự đồng thuận chung trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba.

Chiều muộn ngày 22 tháng Mười, Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Robert Kennedy, em trai của Tổng thống J. Kennedy, đã có chuyến thăm không chính thức Đại sứ quán Liên Xô tại Washington. Tại đây, trong cuộc nói chuyện kín với đại sứ Liên Xô A.F . Dobrynin, R. Kennedy đã trình bày quan điểm của phía Mỹ. Ý nghĩa của tín hiệu này là ở chỗ Mỹ không muốn chiến tranh nhưng kiên quyết yêu cầu Liên Xô rút tên lửa ra khỏi Cuba và đe dọa sẽ giáng đòn vào Cuba nếu không đưa ra quyết định tháo gỡ tên lửa.

Đáp lại, Đại sứ A.F. Dobrynin tuyên bố rằng, cả Liên Xô cũng không muốn chiến tranh. Tiếp theo, Dobrynin đã nhắc lại những luận cứ mà N .S. Khrushchev đã trình bày trước đó rằng việc Liên Xô bố trí tên lửa chỉ là bước đi trả đũa việc Mỹ bố trí tên lửa ở Thổ Nhĩ Kỳ và có những đe dọa đối với chính phủ của Fidel Castro. Nội dung cuộc trao đổi được thông báo cho chính phủ hai nước. Trong quá trình trao đổi thông điệp giữa NS. Khrushchev và J. Kennedy và những cuộc nói chuyện giữa Ạ.F. Dobrynin với R. Kennedy từ ngày 23 đến 28 tháng Mười hai, hai bên đã đạt được việc dự thảo các điều kiện thỏa hiệp. Phía Mỹ đồng ý ra tuyên bố từ bỏ ý tưởng lật đổ Fidel Castro bằng vũ lực. Đáp lại, Liên Xô bắt đầu cho tháo gỡ các thiết bị tên lửa ở Cuba, rút khỏi hòn đảo và không bố trí thêm tên lửa tại đây. Phần thỏa thuận này hai bên quyết định tuyên bố công khai.

Về vấn đề tên lửa của Mỹ đặt tại Thổ Nhĩ Kỳ, hai bên đã thỏa thuận ngầm rằng, chúng sẽ được chuyển đi trong thời gian tới (4-5 tháng), sau khi đạt được thỏa thuận về hình thức với phía Thổ Nhĩ Kỳ và NATO. Giới lãnh đạo Mỹ dễ dàng chấp thuận việc rút tên lửa khỏi Thổ Nhĩ Kỳ, bởi năm 1962 họ cũng đã khẳng định cần phải rút các tên lửa lạc hậu loại “Thor” và “Jupiter” khỏi châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ và thay thế chúng bằng những quả tên lửa mới “Polaris” đặt ngoài biển. Việc thỏa thuận với Moscow chỉ đẩy nhanh thêm kế hoạch này mà thôi.

Cuộc khủng hoảng Caribê đã được giải quyết. Hai bên đã thực hiện đúng những cam kết của mình. Mỹ tuyên bố từ bỏ các hành động gây rối chống Cuba, còn N.S. Khrushchev ra lệnh rút các tên lửa Liên Xô ra khỏi Cuba. Mỹ cũng rút tên lửa khỏi Thổ Nhĩ Kỳ trong những tháng sau đó.

Nguồn: Lịch Sử Quan Hệ Quốc Tế, Bogaturov Aleksey Demosfenovich và Averkov Viktor Viktorovich, NXB Chính Trị Quốc Gia.

Bài viết có thể bạn quan tâm

  1. Tại sao chúng ta lại cần chế độ dân chủ (phần 1)
  2. Max Weber: sự thờ ơ chính trị là cái chết của nền dân chủ
  3. Việt Nam đã từng ba lần “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc?
Chia sẻ

Bình Luận