Hoàn cảnh cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai

Sau thất bại của Hội nghị thượng đỉnh Paris, N. Khrushchev thỉnh thoảng lại nhắc đến khả năng một hòa ước riêng rẽ sẽ được kí giữa Liên Xô và CHDC Đức. Tháng 9-1960, tại khóa họp của Đại hội đồng LHQ, ông đã mạnh mẽ chỉ trích và lên án Hoa Kì rằng nước này đã thay đổi luật pháp quốc tế bằng hành động ăn cướp và lừa đảo.

Tuy nhiên, là một người chủ trương đi tìm chiến thắng cho chủ nghĩa xã hội bằng con đường “thi đua hòa bình”, N. Khrushchev thực sự không muốn quan hệ giữa Liên Xô và các nước phương Tây quay trở lại thời kì căng thẳng của thập niên 50. Hành động phản đối có phần kì quặc của N. Khrushchev tại Đại hội đồng LHQ ngày 12.10(1) đã không ngăn cản ông phát biểu: “Theo những tính toán của chúng tôi, chúng tôi sẽ vượt Hoa Kì trong cuộc đấu tranh chủ yếu về sản lượng tính theo đầu người vào năm 1970, tức là trong vòng mười năm tới. Theo tính toán của các nhà kinh tế học chúng tôi, năm 1980, chúng tôi sẽ sản xuất ra số của cải tính theo đầu người nhiều hơn Hoa Kì. Năm 1965, chúng tôi sẽ sản xuất hàng tiêu dùng tính theo đầu người ngang hàng hoặc thậm chí hơn các nước châu Âu”

Khrushchev tin vào thắng lợi sẽ đạt được trong cuộc “thi đua hòa bình”, và hi vọng cải thiện quan hệ với Hoa Kì. Ông cũng không quên là J. Kennedy đã từng tuyên bố rằng nếu là Eisenhower, ông ta sẽ không ngần ngại đưa ra lời xin lỗi Liên Xô về vụ chuyến bay do thám U.2. Vì vậy, N. Khrushchev đã không để mất thời gian để gửi điện chúc mừng ngay khi vừa được tin ông này đắc cử tổng thống. Bức điện viết rằng nhà lãnh đạo Xô viết hi vọng trong nhiệm kì của tân tổng thống Hoa Kì, “quan hệ giữa hai nước sẽ trở về tình trạng của thời Franklin Roosevelt”.

Về phần mình, J. Kennedy cũng muốn tỏ thái độ thiện chí với Liên Xô, tuy bằng những lời lẽ vừa cứng rắn, vừa lịch thiệp qua bài diễn văn nhậm chức đọc ngày 20.1.1961. Ông muốn rằng cả hai “sẽ có những bước khởi đầu mới nhắc nhở cả đôi bên rằng nhã nhặn không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, rằng lòng chân thành phải luôn được thể hiện ra bên ngoài. Đừng bao giờ đàm phán vì sợ hãi; nhưng cũng đừng bao giờ sợ đàm phán” [Dẫn lại theo 16, tr.461]. Giữa tháng 2.1961, tân tổng thống Mĩ chấp nhận về nguyên tắc đề nghị của N. Khrushchev về một cuộc gặp gỡ tay đôi.

Giữa lúc đó, vào tháng 4 ở Tây bán cầu đã xảy ra sự kiện vịnh Con Heo (hay còn được gọi là bãi biển Heron)(2). Giống như thất bại của lực lượng cánh hữu Nosavan ở Lào và tình cảnh khó khăn của chế độ Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, đây cũng là đòn giáng nặng nề vào uy tín của Mĩ trên chính trường quốc tế. Rõ ràng là những khó khăn mà Mĩ đã gặp phải trong những năm cuối của nhiệm kì D. Eisenhower ở các khu vực có ý nghĩa chiến lược nằm ngoài châu Âu vẫn chưa chấm dứt. Đáng chú ý hơn là Liên Xô đã tăng được kho tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) có khả năng đưa vũ khí hạt nhân đến bất cứ nơi nào trên Trái Đất. Trước đây, sau khi xây dựng hệ thống căn cứ quân sự vây quanh Liên Xô, các nhà chiến lược Mĩ đã có thể lập kế hoạch giáng đòn vào những trung tâm chính của Liên Xô và Đồng minh của nước này mà không sợ bị đòn trả đũa vào lãnh thổ mình. Nhưng từ khi Liên Xô phóng thành công Sputnik I, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, tình trạng không bị thương tổn này đã chấm dứt. Tháng 1-1958, tức không lâu sau sự biến vừa kể, Thượng nghị sĩ Lyndon Johnson đã tuyên bố rằng tình trạng không thương tổn về mặt địa lí của Mĩ đã vĩnh viễn bị mất. Các nhà lãnh đạo Mĩ còn phải tính đến không chỉ khả năng chế độ cộng sản sẽ được thiết lập ở Á, Phi, Mĩ Latinh, mà cả khả năng các cứ điểm và căn cứ quân sự Liên Xô sẽ được xây dựng ở những nơi đó.

sự kiện vịnh con lợn
Sự kiện Vịnh Con Lợn (1961) và cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba về sau (1963) càng làm mâu thuẫn giữa 2 siêu cường trở nên sâu sắc.

Cuộc đối thoại thượng đỉnh ở Vienna

Chính trong bối cảnh trên đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa hai nhà lãnh đạo của hai siêu cường ở Vienna trong các ngày 3 và 4.6.1961. Không mang tính chất của một cuộc đàm phán chính thức, cuộc gặp gỡ đã kết thúc mà không có một thông cáo chung nào. Theo lời của N. Khrushchev và J. Kennedy sau này, các cuộc tiếp xúc giữa họ diễn ra trong bầu không khí thiện ý, trong đó cả hai đã thẳng thắn, nhưng lịch thiệp, trình bày quan điểm của mình. Gây căng thẳng nhất là vấn đề Đức và gắn liền với nó, vấn đề Berlin. N. Khrushchev nói rằng tình hình đã trở nên không thể dung nhận được và dù Hoa Kì có đồng ý hay không, Liên Xô quyết định sẽ kí hòa ước với CHDC Đức trước cuối năm. Còn Tây Berlin phải trở thành “thành phố tự do”, quân đội các nước thắng trận có thể vẫn tiếp tục trú đóng tại đây, nhưng công việc liên lạc giữa thành phố và phương Tây phải tuân thủ các quy định của Chính phủ CHDC Đức. J. Kennedy giải thích rằng nước Mĩ có những quyền lợi thiết thân ở Berlin, an ninh của phương Tây gắn liền với an ninh của CHLB Đức và Tây Berlin, với sự hiện diện của phương Tây ở Berlin với quyền tự do ra vào thành phố này. “Đó là quyền của chúng tôi, – J. Kennedy tuyên bố, – chứ không phải là sự đồng tình thinh lặng, và chúng tôi rất quyết tâm giữ gìn quyền này trong mọi tình huống hiểm nghèo”. Bất chấp những can gián của Tổng thống Hoa Kì, người đứng đầu Đảng và Chính phủ Liên Xô khẳng định: “Tôi muốn hòa bình, nhưng nếu ngài muốn chiến tranh, đó là chuyện của ngài. Quyết định kí hòa ước vào tháng 12 tới của chúng tôi là không thể trì hoãn được”.

Không đầy hai tuần sau cuộc gặp gỡ trên, đã bùng ra một cuộc khủng hoảng mang tên “Khủng hoảng Berlin”.

Thái độ kiên quyết của hai vị nguyên thủ quốc gia ở Vienna cho thấy vấn đề Đức và vấn đề Berlin không thể có được một giải pháp mau chóng. Nhưng N. Khrushchev lại đi đến kết luận rằng Liên Xô có thể gây sức ép lên các nước phương Tây để giúp CHDC Đức thiết lập một chế độ kiểm soát biên giới nghiêm ngặt. Vấn đề này trở thành chủ đề trong một số bài phát biểu của N. Khrushchev. Trong buổi gặp gỡ các học viên tốt nghiệp học viện quân sự tại điện Kremlin, ông tuyên bố: “Chúng ta sẽ kí hòa ước, và sẽ chỉ thị cho các lực lượng vũ trang của chúng ta giáng trả đích đáng bất kì kẻ xâm lược nào, nếu chúng xúc phạm đến Liên Xô hay bè bạn của chúng ta”.

Ngày 3.8.1961, Chính phủ Liên Xô gửi cho các cường quốc  phương Tây một yêu sách gần như là tối hậu thư: “Trong vòng năm nay, bằng cách này hay cách khác phải giải quyết vấn đề kí hòa ước với Đức, và trên cơ sở đó giải quyết tình trạng ở Tây Berlin.

Ngày 7.8, N. Khrushchev phát biểu trên truyền hình. Sau khi nhắc lại những lời đe dọa của phương Tây về việc dùng “sức mạnh đột phá” vào Berlin, ông tuyên bố rằng do mối đe dọa của tình hình đã nảy sinh đối với Liên Xô, chắc là đành phải tăng cường quân số ở biên giới phía tây của Liên Xô và động viên một phần lực lượng dự bị để đảm bảo quân số đầy đủ cho các sư đoàn Xô viết.

Thái độ cứng rắn nói trên của N. Khrushchev có thể được giải thích bởi nguyên nhân: Tây Berlin tiếp tục là cửa ngõ dễ dàng nhất cho những người Đông Đức nào muốn sang phương Tây : chỉ trong 8 tháng đầu năm 1961, số người bỏ trốn đã cao hơn cả năm 1960. Rõ ràng là Đông Đức sẽ chóng kiệt quệ, nếu tình trạng này không sớm chấm dứt.

Các nhà lãnh đạo phương Tây cũng tỏ thái độ cứng rắn không kém. Lực lượng vũ trang NATO được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Còn Tổng thống J. Kennedy thấy đây là cơ hội để lấy lại uy tín đã bị sứt mẻ phần lớn sau thất bại ở vịnh Heron.

Ngày 25.7, J. Kennedy tuyên bố trên đài phát thanh và truyền hình: “Nếu chiến tranh bùng nổ, nó sẽ bắt đầu ở Moskva, chứ không phải ở Berlin… Chỉ Chính phủ Xô viết mới có thể biến biên giới ở Berlin thành cớ gây chiến. Ông nhấn mạnh rằng Mĩ sẽ “bằng những biện pháp kiên quyết nhất” đạt được ba mục tiêu sau: sự hiện diện của các cường quốc phương Tây ở Tây Berlin, quyền tự do ra vào Tây Berlin, an ninh tự do cho người dân Tây Berlin. Ông yêu cầu Quốc hội thông qua một loạt biện pháp khẩn cấp, như bổ sung ngân sách quốc phòng thêm 3,25 tỉ dollars, tăng quân số hiện hành, tăng số quân nhập ngũ lên 2, rồi 3 lần, động viên lực lượng dự bị.

Bức tường Berlin

Trong tình hình đối đầu căng thẳng như trên, ở Moskva đã diễn ra hội nghị  đại diện các nước khối Hiệp ước Varsava. Hội nghị kêu gọi CHDC Đức thiết lập ở biên giới nước mình “chế độ ngăn ngừa hoạt động phá hoại chống các nước phe XHCN”. Ngày 12-8, Hội đồng Bộ trưởng CHDC Đức quyết định thực hiện chế độ kiểm tra nghiêm ngặt ở biên giới. Biên giới giữa CHDC Đức và CHLB Đức bị đóng lại, mọi tuyến đường giao thông băng qua biên giới bị đặt dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt. Để đi qua biên giới cần có giấy phép đặc biệt. Chung quanh toàn bộ Tây Berlin người ta đã mau chóng dựng lên dãy tường cao có rào dây thép gai với một số ít cửa qua lại. Giao thông trong thành phố bị thay đổi, các công dân được phép đi từ Tây Berlin sang Đông và ngược lại chỉ khi nào có giấy tờ chứng nhận và giấy phép qua lại.

Những biện pháp kể trên đã gây ra những phản đối ở phương Tây. J. Kennedy tiến hành những cuộc họp khẩn cấp. Lính dù đổ bộ Mĩ được đưa sang châu Âu. Lực lượng dự bị của CHLB Đức được động viên. Phó Tổng thống Mĩ L. Johnson bay đi Tây Berlin. Đã xảy ra một số vụ phá bỏ bức tường đã được dựng lên, nhưng lại được sửa chữa ngay. Đứng bên kia bức tường là lính Mĩ, phía bên này là xe tăng Xô viết. Hai bên yên lặng nhìn nhau… và hết (!). Tình hình này tỏ cho thấy phương Tây không thể làm gì khác hơn ngoài việc chấp nhận sự đã rồi và đành phải lưu tâm đến chế độ kiểm tra biên giới nghiêm ngặt trên ranh giới CHDC Đức, vì suy cho cùng, những biện pháp này nằm trong khuôn khổ quyền hạn của CHDC Đức và không vi phạm mối liên lạc giữa Tây Berlin và phương Tây. Đó là chưa kể phương Tây thực ra không có khả năng bảo vệ quan điểm của mình về Tây Berlin bằng một cách nào khác  hơn là một cuộc chiến hạt nhân. Chính phủ CHDC Đức cũng đã tuyên bố rõ: việc giao thông giữa Tây Berlin và Tây Đức không bị ảnh hưởng, nghĩa là quyền ra vào Tây Berlin của các nước Mĩ, Anh và Pháp không bị đụng chạm. Vả chăng, N. Khrushchev cũng “quên” đi lời đe dọa của mình: sẽ kí hòa ước với CHDC Đức trước cuối năm.

Từ đó, bức tường Berlin trở thành biểu tượng ngăn cách không chỉ giữa hai nước Đức, mà còn giữa Đông và Tây. Nó đặt dấu chấm hết cho mọi nỗ lực tái thống nhất nước Đức bằng con đường thương lượng giữa bốn cường quốc. Liên Xô từ nay sẽ công nhận Tây Berlin chừng nào nó còn bị cô lập và không làm kiệt quệ Đông Đức. Hoa Kì đành chấp nhận bức tường chừng nào Tây Berlin còn nằm trong quỹ đạo của phương Tây.

Chú thích

(1) Để tỏ thái độ phản đối trước bài phát biểu của đại diện Philippines  rằng cần giải phóng các dân tộc, kể cả những dân tộc đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, N. Khrushchev đã tháo giầy và nện xuống bàn.

(2)  Ngày 19.4.1961, lực lượng vũ trang của người Cuba lưu vong được chính phủ Mĩ yểm trợ đã đổ bộ lên bãi biển này , nhưng đã bị quân cách mạng Cuba tiêu diệt hoàn toàn trong 72 giờ.
Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

 

Chia sẻ

Bình Luận