Chủ nghĩa toàn trị và quyền lực của đám đông

Các tư tưởng toàn trị – Hannah Arendt nói – là vô hại và không nguy hiếm khi chưa chiếm được lòng tin tuyệt đối. Nhưng khi các tư tưởng này đã biến thành bộ khung của các hệ thống logic, là nền tảng, là xuất pháp điểm, dù đấy có là đấu tranh giai cấp, hay đấu tranh chủng tộc thì cuối cùng cũng sẽ xuất hiện một cách giải thích đơn giản mọi vấn đề. (Ở Liên xô tất cả các tiến trình văn hoá và xã hội được lí giải từ quan điểm đấu tranh giai cấp, còn ở Đức thì trên quan điểm đấu tranh dân tộc và chủng tộc.)

Lòng tin mù quáng và nguyên tắc “đảng bao giờ cũng đúng” được nhồi sọ chính trên nền tảng tư tưởng đó. Nhưng chuyện đó xảy ra trong hoàn cảnh nào? Nó xảy ra trong hoàn cảnh khi mà xã hội biến thành một đám đông hỗn loạn, khi các mối liên hệ cộng đồng tương trợ giữa các cá nhân bị chặt đứt và quá trình này lại rơi đúng vào lúc quần chúng gặp những khó khăn vô cùng to lớn về kinh tế. Đấy là nước Nga đầu thế kỉ XX, khi tiến trình công nghiệp hoá và thương mại hoá do chính quyền Sa hoàng tiến hành đã phá vỡ nền tảng cộng đồng cư dân nông nghiệp, sau đó là cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội vô cùng nặng nề gây ra bởi chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Đấy là Liên xô những năm 30 của thế kỉ trước, mà theo lời của nhà Xô Viết học người Pháp, Nikol Vert, thì xã hội đã biến thành “những hạt cát di động”, quá trình tập thể hoá đã đấy một khối quần chúng to lớn khỏi nếp sống truyền thống, phải di cư vào những trung tâm công nghiệp đang phát triển. Việc đưa phương pháp sản xuất theo dây chuyền trong những năm 20 và 30 của thế kỉ trước và nạn thất nghiệp đã làm cho tiến trình “hạt nhân hoá” ở nước Đức đạt đến những giới hạn chưa từng có. Xã hội tư bản-công nghiệp đã mang sẵn mầm mống toàn trị trong lòng. Nhưng chủ nghĩa toàn trị chỉ trở thành một nhu cầu khi xã hội ấy rơi vào khủng hoảng sâu sắc.

Chủ nghĩa toàn trị luôn đặt đám đông trong trạng thái hoang mang, không ổn định, hung hăng và hiếu chiến

Trong số những yếu tố đưa đến sự xuất hiện các phong trào toàn trị, ngoài công nghiệp hoá và thương mại hoá phải kể đến khủng hoảng kinh tế – xã hội và sự bần cùng hoá của quần chúng. Ở đây ta thấy một tính chất bất ngờ nhất của các phong trào và chế độ toàn trị: chúng tự tạo ra chỗ dựa cho mình. Điều đó không có nghĩa là các phong trào và chế độ đó không nhận được sự ủng hộ của các nhóm xã hội đã hình thành trong xã hội “trước toàn trị”. Nhưng chúng ta sẽ không thể hiểu được động năng của chủ nghĩa toàn trị nếu không nói đến việc nó tự tạo ra chỗ dựa cho mình từ những người bị bàn cùng hoá. Chỗ dựa của các phong trào và các chế độ toàn trị chính là các tổ chức quần chúng đông đảo hoặc các đơn vị dân quân vũ trang. Những kẻ trung thành nhất của các tổ chức này được thoả 1 mãn không những về mặt tâm lí mà còn nhận được quyền lợi về mặt vật chất và xã hội khi họ chui vào được bộ máy quan liêu của chế độ.

Như đã nói ờ trên, sự phát triển của nền công nghiệp công và tư, việc các nhà sản xuất nhỏ bị đẩy khỏi thị trường, sưu cao thuế nặng buộc người nông dân phảỉ rời bỏ làng mạc đi vào thành phố kiếm việc làm, công cuộc tư nhân hoá ruộng đất bằng vũ lực do Stolưpin tiến hành và cuối cùng là khủng hoảng kinh tế, nạn đói, thất nghiệp hàng loạt và bần cùng hoá gây ra bởi cuộc thế chiến thứ nhất đã tạo ra phản ứng bằng cuộc cách mạng Nga vĩ đại. Một mặt ta thấy đấy là những cố gắng của công nhân, nông dân và một bộ phận trí thức trong việc tổ chức đời sống thông qua các Xô viết, các Uỷ ban của giai cấp thợ thuyền và Liên đoàn lao động của nông dân, các hợp tác xã và các tổ chức tự quản khác. Nhưng mặt khác cuộc khủng hoảng cũng đấy một bộ phận dân chúng cần lao (đấy là những người công nhân, nông dân mặc áo lính hoặc nông dân nghèo) đi tìm một điểm tựa mới là nhà nước mạnh và những tập thể tổ chức theo lối cũ có thể thay thế cho cái xã hội gồm những con người hạt nhân đang ở thời kì tan rã. Họ nhận thấy điểm tựa là Đảng của những người bolsevic. Những cuộc mít tinh và tuần hành có rất nhiều người tham gia do Đảng tổ chức trước và sau khi nắm được chính quyền, yêu cầu tuyệt đối phục tùng lãnh tụ, hi sinh quyền lợi riêng cho mục đích chung, những lời kêu gọi theo kiểu của Lênin “ủng hộ những cuộc trấn áp hàng loạt” nhằm chống lại kẻ thù của cách mạng, việc hỉnh thành chính phủ siêu tập quyền trong đó hàng trăm ngàn công nhân và nông dân không chỉ tìm thấy những kẻ cùng hội cùng thuyền vói mình mà còn được nhận chức vụ nữa, nói cách khác họ đã có quyền và có tiền – tất cả những điều đó đã trở thành cơ sờ của chính quyền bolsevic. Năm 1919, một phần ba trong số sáu trăm ngàn đảng viên Đảng cộng sản Nga (bolsevic) đã trở thành các quan chức của chính quyền Xô Viết, đa số họ vốn là công nhân hoặc nông dân.

“Khi hàng loạt nhà máy và công xưởng bị đóng cửa”, Viktor Trernov, một nhà cách mạng theo đường lối xã hội viết năm 1918, “thì trên thực tế đa số công nhân ở đấy đã là những người phi giai cấp. Trong thời gian chiến tranh giai cấp công nhân đã mất bộ phận giá trị nhất, đấy là những người công nhân đứng tuổi, cỏ kinhi nghiệm, không hiểu sao lại bị đấy ra mặt trận…Thay thế cho số mất mát đó là những người nông dân, tiểu thị dân, đày tớ, lao công…*. 1 Nông dân cũng bị bần cùng hoá, đa số binh lính vốn là nông dân. “Rất nhiều người bị tách khỏi quá trình sản xuất (nông nghiệp – tác giả chú thích) trong một thời gian quá dài. Chiến tranh thì liên miên. Trở thành vô nghề nghiệp, họ cũng dễ dàng trở thành những kẻ vô luân. Trong thiên truyện ngắn “Mishanka” tác giả Glev Ưspenski đã vẽ lên một bức tranh sống động quá trình những gã trai làng khoẻ mạnh, tư cách, trong môi trường lao động quen thuộc (làng xã, chú thích của tác giả) vốn là những người mẫu mực, nhưng khi bị đẩy khỏi môi trường quen thuộc, rơi vào vòng xoáy của dời  sống xa lạ trong thành phố, họ bị mất phương hướng và những đầu óc tối tăm đó không còn phân biệt được đâu là thiện đâu là ác nửa. Hậu phương rồi sẽ trở thành những phòng thí nghiệm thực sự của đám lính phi giai cấp này…”

Chủ nghĩa toàn trị và tác phẩm 1984
Bạn đọc có thể đọc tác phẩm 1984 của tiểu thuyết gia George Orwell để tìm hiểu thêm về chủ nghĩa toàn trị.

Những nạn nhân và những kẻ biết ơn chủ nghĩa toàn trị

Dung nham được các phong trào chủ nghĩa toàn trị tung ra rồi sẽ nguội đi và cùng với thời gian sẽ vón thành kết cấu vững chắc lập nên bộ máy quan liêu. Nhưng các chế độ toàn trị bao giờ cũng cố gắng giữ tâm trạng quần chúng luôn luôn ở trạng thái căng thẳng. Quá trình huỷ hoại các mối liên kết xã hội độc lập với nhà nước, theo chiều ngang, việc phá huỷ chính xã hội (bản thân xã hội chỉ còn là xã hội khi còn những mối liên kết theo chiều ngang giữa người với người) dẫn đến những hiện tượng suy đồi nghiêm trọng. Quần chúng mất phương hướng và tách khỏi mọi liên hệ sẽ dễ dàng trở thành đám đông hung hăng và dễ điều khiển, họ sẵn sàng tuân theo chỉ thị của lãnh tụ một cách mù quáng và tham gia bằng cách này hay cách khác vào những hành động tội ác của đám lãnh tụ đó. “Tập thể hoá bằng vũ lực và công cuộc hiện đại hoá cấp tốc (trong những năm 30) đã tạo ra một làn sóng dỉ dân to lớn”, nhà sử học người Pháp, Nỉkol Vert viết. “Xã hội Xô Viết đã trở thành một trại tạm cư của dân du mục trở thành xã hội của “những hạt cát di động”. Tại nông thôn cơ sở hạ tầng làng xã và nếp sống truyền thống đã bị phá huỷ hoàn toàn.

Đồng thời, ở thành phố đã hình thành một tầng lớp công nhân trẻ vốn là những người nông dân trốn hợp tác xã đi ra thành thị”, Nói chung, đặc trưng của Liên Xô những năm 30 của thế kỉ trước là sự năng động rất cao: nền công nghiệp non trẻ cần rất nhiều cán bộ quản lí mới, ngoài ra các vụ thanh trừng lại giải phóng nhiều vị trí trong bộ máy lãnh đạo chính quyền, đảng và quân đội, và đương nhiên những người nắm giữ các vị trí mới hoặc các vị trí do các quan chức bị thanh trừng để lại cũng là những người xuất thân từ nhân dân hoặc từ các tầng lóp thấp của bộ máy quan liêu, những người này phải biết ơn giai đoạn “bước ngoặt” và lãnh tụ thiên tài Stalin, người thực hiện chủ nghĩa toàn trị tốt nhất ở Liên Xô.

Tất nhiên tính tích cực của quyền lực đám đông toàn trị lúc này đã nắm dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ và nhà nước chứ không còn được thả lỏng như thời kì đầu cách mạng nữa. Họ đã khéo léo định hướng và sử dụng các hoạt động đó nhằm nâng cao năng suất lao động và phục vụ quốc gia trên mặt trận “lao động và sản xuất”.

Chúng tôi phần nào đồng ý với Hannah Arendt khi bà viết: “Stalin phải tự tạo ra một xã hội hạt nhân mà hoàn cảnh lịch sử đã tạo sẵn cho bọn phát xít ở nước Đức”, nhưng chúng tôi cho rằng việc hình thành và phát triển của chủ nghĩa bolsevic ngay từ khởi thuỷ đã là phản ứng của xã hội đối với việc huỷ hoại cộng đồng nông dân và nền sản xuất thủ công truyền thống dưới chế độ quân chủ.

Chia sẻ

Bình Luận