Nước Mỹ có thực sự gặp nguy hiểm ?

Hiểu biết của người Mỹ về Liên Xô và gián điệp Cộng Sản.

Vào đầu Chiến tranh Lạnh, cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, mỗi vài tháng báo chí lại tiếp xúc thêm một mạng lưới nữa của Cộng sản những kẻ đã thâm nhập vào một phòng thí nghiệm của Mỹ, công đoàn lao động, hoặc cơ quan chính phủ. Người Mỹ lo ngại rằng một cột trụ thứ năm thân Cộng, trung thành với Liên Xô hơn với Hoa Kỳ, đã đi vào các tổ chức của họ. Vào giữa thập niên 1950, sau phiên tòa và kết án tội gián điệp liên quan đến Alger Hiss – một nhà ngoại giao cấp cao, cùng Julius và Ethel Rosenberg -gián điệp nguyên tử, đã có một sự đồng thuận chung về ba điểm: đó là, gián điệp Liên Xô thật nghiêm trọng, người Mỹ Cộng sản hỗ trợ Liên Xô, và rằng một số quan chức cấp cao của chính phủ đã phản bội Hoa Kỳ.

Các thông điệp Venona giải mã cung cấp một cơ sở thực tế vững chắc cho sự đồng thuận này. Nhưng chính phủ đã không phát hành các giải mã Venona cho công chúng, và nó đã đánh lạc hướng thành công hoạt động gián điệp của Liên Xô. Quyết định này đã phủ nhận quyền được biết bằng chứng cung cấp bởi các thông điệp của công chúng, của những người không có sức phản kháng các điệp viên của Liên Xô. Kể từ khi thông tin về hoạt động gián điệp của Liên Xô và sự tham gia phần lớn của Cộng sản Mỹ bắt nguồn từ lời khai của người đào thoát và một khối lượng bằng chứng gián tiếp, niềm tin của công chúng vào bài báo được đặt trên niềm tin vào các quan chức an ninh chính phủ. Những nguồn tin vốn đã mơ hồ hơn bằng chứng của các tin nhắn Venona, và sự mơ hồ này dẫn đến hậu quả đáng tiếc cho nền chính trị Mỹ và sự hiểu biết của người Mỹ về lịch sử của chính mình.

Các quyết định giữ bí mật Venona khỏi công chúng, và thậm chí hạn chế hiểu biết về nó trong chính phủ, đã được thực hiện chủ yếu bởi các Sĩ quan cao cấp của Quân đội với sự tham vấn của FBI và CIA. Bên cạnh những nhà giải mã Venona, chỉ một số giới hạn các sĩ quan tình báo quân sự, nhân viên FBI, và các quan chức CIA biết về dự án. CIA trên thực tế đã không được thực hiện vai đối tác tích cực trong dự án Venona cho đến năm 1952 và đã không nhận các bản sao của thông điệp được giải mã cho đến năm 1953. Bằng chứng không hoàn toàn rõ ràng, nhưng có vẻ như Trưởng tham mưu Quân đội Omar Bradley, lưu tâm đến thiên hướng rò rỉ thông tin chính trị nhạy cảm của Nhà Trắng, quyết định từ chối Tổng thống Truman quyền trực tiếp được biết về dự án Venona. Tổng thống đã được thông báo về nội dung của thông điệp Venona khi nó đến tay ông qua FBI và biên bản ghi nhớ về cuộc điều tra hoạt động gián điệp của Bộ Tư pháp và báo  CIA về các vấn đề tình báo. Ông đã không được bảo rằng có phần nhiều thông tin này bắt nguồn từ việc đọc điện tín Liên Xô. Thiếu sót này thật quan trọng vì Truman vốn tánh nghi ngờ với J. Edgar Hoover, người đứng đầu của FBI, và nghi ngờ rằng các báo cáo về tình báo Liên Xô đã được phóng đại cho các mục đích chính trị. Nếu ông nhận thức được Venona, và biết rằng điện tín Liên Xô khẳng định lời khai của Elizabeth Bentley và Whittaker Chambers, có lẽ rằng các phụ tá của ông đã có thể cân nhắc thực hiện một chiến dịch làm mất uy tín Bentley và kết tội Chambers vì khai man, hoặc có thể đã tự cho phép mình bị dẫn dắt bởi những nguồn tin sai được lan truyền bởi các tên Mỹ Cộng sản và đồng đảng Alger Hiss, rằng Chambers đã có lúc phải điều trị trong trại tâm thần.

Đòn gián điệp của Stalin nhằm vào Hoa Kỳ

Trông suốt thế kỷ XX, chính phủ các quốc gia hùng mạnh đã tiến hành các hoạt động tình báo trong cả thời bình và thời chiến. Tuy nhiên, không đâu sử dụng gián điệp như một công cụ trong chính sách nhà nước rộng rãi như Liên Xô dưới Joseph Stalin. Vào cuối những năm 1920 và 1930, Stalin chỉ đạo hầu hết các nguồn tin tình báo Liên Xô nhắm vào các mục tiêu gần đó ở châu Âu và châu Á. Mỹ vẫn còn xa vời khỏi mối quan tâm trước mắt của Stalin, mối đe dọa cho các mục tiêu của Liên Xô đươc đặt ra bởi Đức quốc xã và đế quốc Nhật. Nhận thức này đã thay đổi, tuy nhiên, sau khi Hoa Kỳ bước vào cuộc chiến tranh thế giới trong tháng Mười Hai năm 1941. Stalin nhận ra rằng một khi Đức và Nhật Bản bị đánh bại, thế giới sẽ chỉ còn lại ba cường quốc có thể dự liệu ảnh hưởng của họ trên toàn cầu: Liên Xô, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Và trong số này, mạnh nhất sẽ là Hoa Kỳ. Với ý nghĩ đó, cơ quan tình báo của Stalin chuyển trọng tâm của họ về phía Mỹ.

Liên Xô, Anh, và Hoa Kỳ đã thành lập một liên minh quân sự vào đầu năm 1942 để đánh bại phát xít Đức và các đồng minh của nó. Liên Xô nhanh chóng trở thành một nơi nhận viện trợ lớn từ quân đội Mỹ (Lend-Lease), chỉ đứng sau Anh; cuối cùng nó nhận được hơn chín tỷ USD. Như một phần của thỏa thuận viện trợ, Mỹ mời Liên Xô mở rộng đáng kể đội ngũ nhân viên ngoại giao của họ và thành lập văn phòng đặc biệt để tạo điều kiện cho các thỏa thuận viện trợ. Hàng ngàn quân cán bộ, kỹ sư và kỹ thuật viên Liên Xô vào Hoa Kỳ để xem lại viện trợ đã có sẵn và chọn máy móc thiết bị, vũ khí, phương tiện (gần 400.000 xe tải Mỹ đã tới Liên Xô), máy bay và trang thiết khác sẽ hỗ trợ hầu hết các hậu quả chiến tranh. Nhân sự của Liên Xô đã được đào tạo để biết cách duy trì các thiết bị của Mỹ, hướng dẫn sử dụng phải được dịch sang tiếng Nga, các lô hàng sang Liên Xô được kiểm tra để đảm bảo rằng những gì được yêu cầu đã được chuyển giao, trơn tru, và chất lên đúng đội tàu. Toàn bộ đội Hải quân Xô Viết được gửi đến đào tạo để tiếp nhận chiến đấu và tàu hàng của Mỹ bàn giao cho Liên Xô.

Điểm mấu chốt của các sĩ quan tình báo Liên Xô KGB (trưởng Cơ quan tình báo và an ninh nước ngoài của Liên Xô), các GRU (cơ quan tình báo quân sự của Liên Xô), và GRU Hải quân (cơ quan tình báo hải quân Liên Xô) chính là những nhân viên của Liên Xô khi đến Mỹ. Những sĩ quan tình báo theo đuổi hai nhiệm vụ. Một, an ninh, chỉ gián tiếp kết nối với Hoa Kỳ. Các cánh tay an ninh nội bộ của KGB đã thuê vài trăm ngàn nhân viên toàn thời gian, được hỗ trợ bởi vài triệu người đưa tin, nhằm đảm bảo sự trung thành chính trị của công dân Liên Xô.

Khi Liên Xô gửi hàng ngàn công dân của họ đến Hoa Kỳ để hỗ trợ việc sắp xếp Lend-Lease, họ cũng đã gửi bộ máy an ninh nội bộ này. Một phần đáng kể trong các tin nhắn giải mã Venona thực hiện bởi các nhà giải mã Mỹ đã báo cáo về nhiệm vụ này. Các thông điệp cho thấy trên mỗi tàu chở hàng Liên Xô đến một cảng của Mỹ để đón nhận nguồn viện trợ Lend- Lease có trong phi hành đoàn của nó ít nhất một người, thường là hai, và đôi khi là ba, cung cấp thông tin hoặc cho KGB hoặc cho GRU Hải quân. Nhiệm vụ của họ là không để do thám người Mỹ, nhưng để xem các thủy thủ Xô Viết có các dấu hiệu bất hảo về chính trị và có khả năng đào tẩu hay không. Một số trong các thông điệp cho thấy các sĩ quan an ninh Liên Xô theo dõi các thủy thủ đã nhảy tàu, bắt cóc họ, và cưỡng ép trở lại tàu bất chấp các luật pháp Mỹ. Tương tự như vậy, các thông điệp khác – thảo luận về việc cung cấp thông tin, tuyển dụng hay kế hoạch của KGB trong mỗi văn phòng của Liên Xô tại Hoa Kỳ – có nhiệm vụ báo cáo các dấu hiệu sai lệch về ý thức hệ hay khả năng đào tẩu giữa các nhân viên của Liên Xô.

Fifth Column (Cột trụ thứ năm) ám chỉ những kẻ bán nước, mối nguy đe dọa bốn nền tảng lập quốc Hoa Kỳ.

Mặc cho vai trò trung tâm của nó trong lịch sử phản gián điệp Mỹ, Dự án Venona vẫn nằm trong vòng bí mật của chính phủ một cách chặt chẽ nhất. Vào thời điểm dự án đóng cửa, nó đã giải mã được gần ba nghìn tin gửi đi giữa Liên Xô và các đại sứ quán, lãnh sự quán của mình trên toàn thế giới. Đáng chú ý, mặc dù vài tin đồn và một nguồn tin liên quan về dự án đã công bố trong những năm 1980, các văn bản thực tế và phần quan trọng của các tin nhắn vẫn được giữ bí mật cho đến năm 1995. Chính phủ Mỹ thường thành công trong việc giữ bí mật trong ngắn hạn, nhưng qua một thời gian dài bí mật, đặc biệt đối với những tin có giá trị, được chứng minh là rất khó khăn cho chính phủ trong việc giữ bí mật. Dù sao đó là tất cả các chi tiết tuyệt vời, làm thế nào để ít có ai hiểu về các dự án Venona 53 năm trước khi nó được công bố.

Thật không may, sự thành công của chính phủ bí mật trong trường hợp này đã bị bóp méo nghiêm bằng sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử thời hậu Thế chiến II. Hàng trăm cuốn sách và hàng ngàn bài luận về chủ nghĩa McCarthy, các chương trình an ninh khảo sát lòng trung thành liên bang, hoạt động gián điệp của Liên Xô, chủ nghĩa cộng sản Mỹ, và chiến tranh Lạnh thời kì đầu đã kéo dài nhiều huyền thoại tạo  cho người Mỹ một cái nhìn biến dạng về lịch sử dân tộc trong những năm 1930, 1940, và 1950 . Những thông điệp mà các tin nhắn này tiết lộ đã sửa lại đáng kể cơ sở hiểu biết lịch sử ban đầu của Chiến tranh Lạnh cùng các mối quan tâm của Mỹ với hoạt động tình báo của Liên Xô và lật đổ Cộng sản.

Vào cuối những năm 1970 FBI bắt đầu phát hành các tài liệu từ các tập tin cho đến thời điểm đó vẫn bí mật như một hệ quả của việc thông qua Đạo luật Tự do Thông tin (FOIA). Mặc dù đạo luật này đã mở một số tập tin để bố cáo toàn dân, nó vẫn chưa được cung cấp quyền truy cập vào đầy đủ các hồ sơ điều tra FBI. Việc nhập nhằng các yêu cầu của FOIA đã dẫn đến sự chậm trễ kéo dài trong việc phát hành các tài liệu; thật không bình thường để phải chờ đợi hơn 5 năm để nhận được tài liệu. Thực thi thất thường và nhập nhằng các quy định cho một số tài liệu loại tài liệu nhất định đã gợi ra vài tài liệu vô dụng bao gồm các cụm từ thường xuyên xen kẽ. Và, tất nhiên, ngay cả các file không bị kiểm duyệt của FBI cũng chỉ hiển thị những gì FBI muốn chúng ta biết về hoạt động gián điệp của Liên Xô và đó chỉ là một phần của câu chuyện. Mặc cho với những chướng ngại, mỗi năm nhiều tập tin vẫn được mở ra, và với nội dung ngày càng phát triển của tài liệu FBI đã giúp tăng cường đáng kể cơ hội xây dựng lại những gì thực sự xảy ra.

Sự sụp đổ của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết vào năm 1991 dẫn đến việc mở các lưu trữ về Liên Xô điều chưa bao giờ được kiểm tra bởi các học giả độc lập. Các tài liệu lịch sử phong phú đầu tiên có sẵn trong kho lưu trữ của Nga vào năm 1992 đã dẫn đến một làn sóng văn bản lịch sử mới, khi những hồ sơ này cho phép một sự hiểu biết hoàn thiện và chính xác hơn về các sự kiện trung tâm của thế kỷ XX. Tuy nhiên, nhiều tài liệu lưu trữ ở Nga chỉ mở cửa một phần, và một số vẫn còn khép kín. Đặc biệt, các tài liệu lưu trữ về các hoạt động tình báo nước ngoài của tình báo quân sự Liên Xô và những cánh tay tình báo nước ngoài của KGB nhất định không mở cho các nhà nghiên cứu. Với sự liên tục thể chế giữa các cơ quan tình báo Liên Xô cũ và người thừa kế của Nga hiện nay, việc mở các tài liệu lưu trữ là không dự được. Tuy nhiên, các cơ quan tình báo Liên Xô đã hợp tác với các tổ chức Liên Xô khác, tại đó một số tài liệu liên quan đến tình báo đang được lưu giữ và cung cấp một lối cửa sau nhìn vào những tài liệu vẫn còn đóng.

Song, nguồn tin quan trọng nhất về cái nhìn sâu sắc đối với hoạt động gián điệp của Liên Xô ở Mỹ xuất phát từ những thông điệp giải mã được tạo ra bởi dự án Venona. Những tài liệu này, sau tất cả, tạo thành một phần trong những tài liệu mà vẫn còn bị giấu trong kho lưu trữ thông tin tình báo Nga. Không chỉ vì các tập tin Venona cung cấp thông tin theo cách riêng của chúng, mà còn vì độ tin cậy vốn có, chúng cũng cung cấp một tiêu chuẩn để đối chiếu độ tin cậy của các nguồn khác, chẳng hạn như những kẻ đào tẩu ‘và các tập tài liệu điều tra của FBI.

Một sứ mệnh thứ hai của các sĩ quan tình báo Liên Xô là hoạt động gián điệp chống lại Hoa Kỳ. Các điện tín Venona giải mã làm nhiều được hơn chỉ là tiết lộ sự thành công đáng ghi nhận của Liên Xô trong tuyển dụng các điệp viên và tiếp cận với nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ  và các phòng thí nghiệm chịu trách nhiệm với thông tin bí mật. Họ tìm ra sự bướng bỉnh của Cộng sản Mỹ với vai trò một phụ tá cho các cơ quan tình báo của Liên Xô. Trong khi không phải tất cả các điệp viên Liên Xô đều là người đảng viên, nhưng hầu như là tất cả. Và trong khi không phải mọi người Cộng sản Mỹ đều là điệp viên, hàng trăm được. Đảng Cộng sản Mỹ tự nó đã làm việc chặt chẽ với các cơ quan tình báo Liên Xô để tạo thuận lợi cho hoạt động gián điệp của họ. Các lãnh đạo Đảng không chỉ nhận thức về cách liên lạc; họ còn làm việc tích cực để hỗ trợ các mối quan hệ.

Thông tin từ giải mã Verona để lộ các chính sách của quan chức Chính phủ Hoa Kỳ trong cách tiếp cận của họ đối với vấn đề Chủ nghĩa cộng sản trong nước. Các điều tra và truy tố những người Cộng sản Mỹ do chính phủ liên bang trong những năm cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 dựa trên một giả định rằng Đảng Cộng sản Mỹ đã hỗ trợ hoạt động tình báo của Liên Xô. Quan điểm này đã góp phần vào chính sách an ninh của chính quyền Truman năm 1947, tăng cường trong những năm 1950 dưới thời chính quyền Eisenhower, rằng nhân viên chính phủ Hoa Kỳ phải chịu sự trung thành và điều tra an ninh. Có hiệu lực ngay sau quyết định năm 1948, Tổng chưởng lý cho Truman để truy tố các lãnh đạo của Đảng Mỹ với phần kết tội nổi loạn theo Luật Smith. Đó là một giả định đằng sau cuộc điều tra của Quốc hội về Cộng sản trong nước những năm cuối thập niên 1940 và 1950, và nó thấm vào thái độ của công chúng đối với những tên Cộng sản trong nước.

Hoạt động gián điệp không ngừng của Liên Xô chống lại Hoa Kỳ từ 1942 đến 1945 là cách mà một quốc gia thường chỉ đạo nhắm vào một Nhà nước của đối thủ. Vào cuối những năm 1940 các bằng chứng được cung cấp bởi Venona về kích thước khổng lồ và sự thù địch dữ dội trong hoạt động tình báo của Liên Xô khiến cả chuyên gia phản gián điệp Mỹ và những nhà hoạch định chính sách cấp cao phải kết luận rằng Stalin đã phát động một cuộc tấn công bí mật vào Hoa Kỳ. Trong tâm trí của họ, các hoạt động gián điệp tấn công Liên Xô chỉ ra rằng chiến tranh Lạnh đã bắt đầu không phải sau khi Thế chiến II mà là nhiều năm trước đó.

Chia sẻ

Bình Luận