Hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa McCarthy

Câu chuyện của tôi sẽ đưa các bạn quay về thời điểm khi Thế chiến thứ II vừa kết thúc, tại nước Mỹ mỗi ngày có 20,000 ti vi được sản xuất, tích lũy sau chiến tranh lên đến US$140bil (giá $ cũ), điều đó làm biến đổi hoàn toàn bộ mặt nước Mỹ. Đáng tiếc sự giàu có đã không thể nảy nở khắp mọi thành phần công dân. Sự mất cân đối trên đã tạo ra một tâm ly

Vào năm 1950, khoảng 50,000 trong tổng số 150 triệu người Mỹ là thành viên của Đảng Cộng sản. Song, vào những năm cuối 1940s và đầu 1950s, nỗi sợ của nước Mỹ về sự bành trướng của nước Mỹ đã lên đến đỉnh điểm. Quá trình điều tra lòng trung thành với chính phủ lan đến hàng triệu nhân viên Liên bang, thẩm vấn việc họ đọc loại sách –  tạp chí gì, họ tham gia hội đoàn hay tổ chức dân sự nào, và họ tham dự tiệc chiêu đãi ở những đâu. Hàng trăm biên kịch, đạo diễn, diễn viên đã bị đưa vào danh sách đen (họ sẽ không được các hãng phim thuê). Trong khi các giáo viên, công nhân thép, thợ may, luật sư và những nhà hoạt động xã hội mất việc vì niềm tin chính trị của họ. Hơn 39 bang yêu cầu giáo viên và công nhân viên chấp hành lời khai trung thành  (ví dụ : một nhân viên sẽ phải kí một cam kết rằng :”Tôi đã không và sẽ không gửi gắm sự ủng hộ, cổ vũ, lời khuyến khích, hay ảnh hưởng của bản thân cho Đảng Cộng sản”.] Trong khi các thư viện loại bỏ những cuốn sách bị xem là cực tả khỏi giá để của mình. Những câu chuyện bị cấm bao gồm những loại kinh điển như Robin Hood, Bất tuân dân sự của Henry David Thoreau, Chùm nho uất hận của John Steibeck (Những cuốn sách tập trung vào chủ đề giúp đỡ người nghèo hay hoàn cảnh của những công nhân bị trả lương thấp hay cổ vũ cho ý tưởng của công dân về chất vấn vai trò và các chính sách của chính phủ đôi khi bị cho là phản ánh tư tưởng Marx.)

“Cơn ác mộng Đỏ” hậu Thế chiến II thường được gọi là “chủ nghĩa McCarthy” một cái tên bắt nguồn từ thời kì chống Cộng cực đoan nhất, Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy. Song, chiến dịch thập tự chinh chống Cộng vào những năm cuối 1940 và đầu 1950 đã mở ra vào đúng thời điểm và đạt những kết quả tốt trên mức Thượng nghị sĩ bang Winconsin mong đợi. Gốc rễ của chủ nghĩa chống Cộng đã có dấu vết từ giữa thế kỷ 19…

Chủ nghĩa chống Cộng hậu chiến (Mccarthyism) thậm chí còn bắt nguồn trực tiếp ở văn hóa chính trị những năm 1930. Trong cuộc Đại suy thoái, nhiều người đã trở nên bất mãn với Chủ nghĩa tư bản và một số người cảm thấy hấp dẫn với Chủ nghĩa Cộng sản. Những người khác đã bị hấp dẫn bởi tuyên truyền của Cộng sản Mỹ nhân danh hàng loạt những yếu tố kinh tế và xã hội, bao gồm các quyền lợi cho người Mỹ gốc Phi, công nhân và người thất nghiệp. Một bộ phận khác, bị báo động bởi chủ nghĩa dân tộc ở Tây Ban Nha và Quốc xã Đức, đã ngưỡng mộ sự phản đối sớm và quyết liệt của Stalin với chủ nghĩa Phát-xít … Vào năm 1935 Joseph Stalin tuyên bố cho phép những người Cộng sản trên khắp thế giới liên hiệp với những người trung du và cánh tả phi Cộng sản trong một liên minh chống Chủ nghĩa phát-xít. Những điều này đã làm tăng số lượng thành viên đảng Cộng sản Mỹ từ 7,5000 vào đầu thập niên lên đến 55,000 vào những năm cuối. Hơn nữa, những người Mỹ không tham gia đồng cảm với những mục đích của đảng này. Họ tham gia vào những tổ chức có kết nối chặt chẽ với Cộng sản.

Sự bành trướng bất ngờ  của Hitler đã biến Washington và Moscow thành đồng minh thời chiến và trong một thời gian chủ nghĩa chống Cộng đã lắng xuống.  Nhưng khi chiến tranh kết thúc và lực lượng đồng minh giải thể, hàng loạt những sự kiện về Chủ nghĩa chống Cộng được châm ngòi trở lại.

Cuối cùng những nhà Cộng hòa và một vài nhà dân chủ bảo thủ đã thấy chủ nghĩa chống Cộng cần một chiến dịch mạnh mẽ và vũ khí để kiềm chế các tổ chức và tuyên truyền về nhân quyền cũng như chương trình “Kinh tế mới”, vốn để lại quá nhiều bất công. Ví dụ trong lần bầu cử giữa nhiệm kì năm 1946, Thượng nghị sĩ Robert Taft đã buộc tội Tổng Thống Truman tìm kiếm một Quốc hội “chiếm đa số bởi những người hòa nhã với Nga ở nước ngoài và mềm mỏng với Cộng sản ngay chính nhà mình.”

Thông điệp tuyên truyền chống Cộng của Hoa Kỳ

Chủ nghĩa chống Cộng hậu chiến McCarthy (Mccarthyism) vi phạm đến hai Tu chánh án*, gây sự hoang man chưa từng có trong xã hội Mỹ lần đầu tiên ở nơi tự do nhất thế giới, người dân phải cẩn trọng điều mình muốn bày tỏ, đi đâu, làm gì và ở đâu. Điều đó biến ông thành Thượng nghị sĩ bị “ghét nhất trong lịch sử.” Câu hỏi đặt ra là – ngoài lí do các chế độ Cộng sản đã tàn sát nhiều người hơn các chế độ phát-xít. Trong 70 năm, chúng đã áp đặt cuộc chiến tranh tàn bạo lên chính công dân của mình, bỏ đói 10 triệu người bằng nhiều chiến dịch cốt chỉ để giới bần nông quy phục dưới gót chân chúng, hành quyết hàng triệu người chỉ vì tầng lớp xuất thân hay chủng tộc của họ, đàn áp toàn bộ dân số với tội danh quy chụp thuộc phần tử phản động, bỏ tù hàng ngàn giới tri thức vì những bài viết và lí tưởng của họ, kết án các tín đồ tôn giáo, và tùy tiện đưa những nhà bất đồng chính kiến cũng như những người vô tội đến các trại tập trung nơi họ phải lao động dưới những điều kiện khủng khiếp – thì vì nước Mỹ sự căm ghét này có đáng để hi sinh hay không ?

(*) Tu chánh án I : Quốc hội sẽ không lập pháp dựa trên cơ sở tôn giáo, hay ngăn cấm sở hữu tài sản; hay đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí; hay quyền yên ổn hội họp của mọi người; và yêu cầu Chính phủ cho việc khắc phục các bất bình.

(*)Tu chánh án IV : Quyền con người được an toàn cá nhân; nhà cửa, giấy tờ, và các tài sản khác, bất chấp những điều tra và tịch thu vô lý; sẽ không bị xâm hại, và không có sắc bệnh nào ban hành mà không dựa trên động cơ chính đáng, được ủng hộ bởi sắc lệnh hoặc phê chuẩn, và phải miêu tả cụ thể nơi cần lục soát hay tài sản cần tịch thu.

Verona và Chiến tranh lạnh

Dự án Verona bắt đầu vì Carter Clarke không tin Joseph Stalin. Đại tá đã làm Giám đốc cơ quan đặc biệt của quân đội Hoa Kỳ, một nhánh của của bộ phận tình báo quân sự Bộ chiến tranh, và vào năm 1943, các quan chức đã nghe được tin đồn mơ hồ về một Hòa đàm bí mật giữa Liên Xô với Đức. Còn đó những tiền lệ sinh động về Hiệp ước tháng 8 năm 1939 của Đức Quốc xã và Liên Xô trong tâm trí, Clarke sợ rằng một thỏa thuận bất xâm phạm sẽ cho phép phát-xít Đức tập trung cổ máy chiến tranh đáng gờm của nó chống lại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Clarke nghĩ anh ta có cách để tìm hiểu xem cuộc đàm phán đã được tiến hành đến đâu.

Chi nhánh của Clarke về giám sát tình báo đặc biệt, cùng những nhóm giảm mã ưu tú của Quân đội, tiền thân của Cơ quan an ninh Quốc gia. Tháng 02/1943 Clarke đã yêu cầu thành lập một chương trình nhỏ nhằm kiểm tra các cuộc điện tín ngoại giao bị che dấu bởi Liên Xô. Từ khi bắt đầu Đệ nhị thế chiến vào năm 1939, chính phủ Liên Bang đã thu thập bản sao của các điện tín quốc tế ra vào Hoa Kỳ. Nếu các thuật toán được sử dụng bởi Liên Xô được phá giải, Clarke tin rằng, các bao đổi mật giữa những nhà ngoại giao Liên Xô tại Hoa Kỳ cùng với những cấp trên của họ tại Moscow sẽ cho thấy liệu Stalin có đang theo đuổi một Hiệp ước hòa bình riêng biệt hay không.

Các điện tín được mã hóa bởi Liên Xô hóa ra lại lại khó đọc hơn Clarke đã mong đợi. Những nhà giải mã người Mỹ phát hiện ra rằng Liên Xô đã sử dụng hệ thống mã hóa phức tạp liên quan đến một mã gọi là ‘’one-tim pad’’ (mã nhập một lần) mà về mặt lí thuyết là không thể phá vỡ được. Tuy nhiên, các nhà giải mã Verona đã kết hợp những phân tích trí tuệ với những thử nghiệm gắt gao vào các loại cáp điện báo được mã hóa của nhằm phát hiện ra một lỗi lập trình của Liên Xô thứ sẽ giải được thuật toán. Nhưng khi họ tái lập được những thông điệp đầu tiên vào năm 1946 thì chiến tranh đã chấm dứt và mục đích đầu tiên của Clarke đã qua đi. Những thông điệp đó cũng không cho thấy bằng chứng tham vọng kiếm tìm một hiệp định hòa bình riêng biệt của Liên Xô. Những gì chúng cho thấy, dù vậy, còn gây choáng cho các quan chức Mỹ. Những thông điệp được cho là giữa những nhà ngoại giao Liên Xô tại sứ quán ở New York và Ủy ban Ngoại giao ở Moscow hóa ra lại là giữa những quan chức thuộc bộ phận tình báo chuyên nghiệp và Đại tướng Pavel Fitin, người đứng đầu Ban Giám đốc tình báo đối ngoại của KGB ở Moscow. Gián điệp, chứ không phải ngoại giao mới là chủ đề của các bức điện tín. Một trong những tin nhắn được dịch mạch lạc đầu tiên là một bản năm 1944 từ KGB tại New York chứng minh Liên Xô đã thâm nhập vào dự án tối mật của nước Mỹ, bom nguyên tử.

Vào năm 1948, Các bằng chứng tích lũy từ các điện tín được mã hóa của Verona cho thấy Liên Xô đã cài cắm điệp viên vào các cơ quan quân sự hay ngoại giao của Chính phủ Mỹ. Các lãnh đạo Mỹ nhận ra rằng từ năm 1942 Hoa Kỳ đã là mục tiêu của tấn công gián điệp từ Liên Xô liên quan đến hàng chục quan chức tình báo chuyên nghiệp người Liên Xô và hàng trăm người Mỹ, nhiều trong số họ là thành viên Đảng cộng sản Hoa Kỳ (CPUSA). Các điện tín được giải mã từ dự án Verona xác định 349 công dâ, người nhập cư, và thường trú dân đang có mối quan hệ bí mật với các cơ quan tình báo Liên Xô. Hơn nữa, phân tích mật mã của Hoa Kỳ từ dự án Verona chỉ là một phần trong các hoạt động tình báo của Liên Xô, vì vậy ta chỉ có thể xác định hợp lí rằng nhiều điệp vụ đã được đề cập đến trong hàng ngàn tin nhắn chưa thể giải mã. Một vài người trong số đó đã được xác minh từ các nguồn khác chẳng hạn như những kẻ đào tẩu và lời khai của các điệp vụ Liên Xô.

chu-nghia-mccarthy

                                       Các gián điệp đang chỉ dẫn cho Nga

Các thông điệp được Verona giải mã cũng cho thấy số lượng đáng lo ngại các quan chức cao cấp chính phủ Hoa Kỳ đang duy trì có chủ đích một quan hệ bí mật với các cơ quan tình báo Liên Xô và đã cung cấp thông tin cực kì nhạy cảm cho Liên Xô điều này gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia. Harry White – quan chức quyền lực thứ hai của Bộ Tài chính Hoa Kỳ, một trong những người có ảnh hưởng nhất chính phủ, và là một phần của phái đoàn Mỹ trong sự kiện thành lập Liên hợp quốc – đã cố vấn cho KGB làm thế nào để có thể khiến các chính sách ngoại giao Mỹ bị lũng đoạn. Một trợ lý cá nhân đáng tin cậy cho Tổng thống Franklin Roosevelt, Lauchlin Currie cảnh báo KGB rằng FBI đang bắt đầu một cuộc điều tra tên điệp vụ chủ chốt gốc Mỹ của Liên Xô, Gregory Silvermaster. Cảnh báo này đã cho phép Silvermaster, người đứng đầu một đường dây gián điệp năng nổ, trốn được cuộc điều tra và tiếp tục do thám. Maurice Halperlin, người đưang đầu một bộ phận nghiên cứu thuộc Văn phòng phục vụ chiến lược (OSS), một trong những cánh tay tình báo chủ chốt của Mỹ, sau đó đã chuyển hàng trăm điện tín ngoại giao bí mật đến KGB.William Perl, một khoa học gia hàng không sáng lạn của chính phủ, cung cấp cho Liên Xô các kết quả thử nghiệm tối mật và các bản thiết kế thử nghiệm cho động cơ máy bay phản lực. Sự phản bội của anh ta đã giúp Liên Xô nhanh chóng vượt qua vị trí dẫn đầu của Mỹ trong phát triển máy bay phản lực. Trong chiến tranh Triều Tiên , các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ  đã mong đợi Không lực sẽ chiếm lĩnh bầu trời, với giả định rằng các máy bay của Liên Xô sử dụng ở Bắc Hàn và Trung Quốc sẽ không tương xứng với những chiếc từ Mỹ. Họ đã bị sốc khi chiếc máy bay chiến đấu MIG-15 của Liên Xô không chỉ bay vòng qua những chiếc máy bay cánh quạt mà còn vượt trội rõ ràng hơn thế hệ máy bay phản lực đầu tiên của Hoa Kỳ, chiếc Saber F-86, cho phép Hoa Kỳ tỷ thí với những ứng dụng công nghệ của MiG-15. Lực lượng không quân vẫn chiếm ưu thế, nhờ vào sự vượt trội về kĩ năng của các phi công chứ không phải ở mảng thiết kế.

Và sau đó lại có những đệp viên nguyên tử. Từ bên trong dự án Manhattan xuất hiện hai nhà vật lý, Klaus Fuchs và Theodore Hall, cùng một nhà công nghệ, David Greenglass, đã truyền công thức chuyển hóa chất nổ từ ucrainium thông thường, các đề án kĩ thuật cho hạ tầng sản xuất, và các nguyên tắc cho kĩ thuật tạo nổ. Bước tiếp theo có thể khiến việc sử dụng một quả bom nguyên tử từ plutorium trở nên khả thi, một nguyên liệu dễ sản xuất hơn uranium.

Sự phản bội các bí mật nguyên tử của người Mỹ đã cho phép  Liên Xô phát triển vũ khí hạt nhân sớm hơn nhiều năm so với dự kiến và với chi phí thấp hơn đáng kể so với khả năng của mình.

Joseph Stalin biết rằng gián điệp sẽ bảo đảm cho Liên Xô nhanh chóng phá vỡ sự độc quyền nguyên tử của Mỹ hỗ trợ chiến lược ngoại giao của ông trong các cuộc đụng độ đầu chiến tranh lạnh với Hoa Kỳ. Người ta nghi ngờ rằng Stalin, hiếm khi là một kẻ chấp nhận nguy cơ, lại cung cấp đủ tiền và quân sự ủy quyền Bắc Hàn xâm chiếm Hàn Quốc vào năm 1950 mà không cho phát nổ trước một quả bom nguyên tử Liên Xô vào năm 1949. Mặc dù Stalin có thể đã lo ngại rằng Tổng thống Harry Truman sẽ ngăn chặn bất kỳ cuộc xâm lược nào của Bắc Triều Tiên bằng cách đe dọa sử dụng vũ khí nguyên tử. Sau tất cả, ngay sau khi bom nguyên tử đã được phát triển, Truman đã không ngần ngại sử dụng nó hai lần để kết thúc chiến tranh với Nhật Bản. Nhưng vào năm 1950, với việc Stalin sở hữu bom nguyên tử, Truman đã nản chí, không sử dụng vũ khí nguyên tử tại Hàn Quốc, thậm chí vào cuối mùa hè khi các lực lượng ban đầu không được chuẩn bị của Mỹ đã bị đẩy đến rìa của Hàn Quốc và có nguy cơ bị đẩy ra biển, sau đó một lần nữa vào mùa đông khi các lực lượng Cộng sản Trung Quốc bước vào cuộc chiến với số lượng lớn. Vụ giết hại và làm bị thương hàng trăm ngàn binh sĩ cùng dân thường trên cả hai phía của cuộc chiến tranh Triều Tiên có thể đã được ngăn chặn nếu Liên Xô đã không lách được mối đe dọa nguyên tử của Mỹ.

Việc sở hữu quả bom nguyên tử đầu tiên của Liên Xô đã có một tác động tâm lý quan trọng. Khi Liên Xô cho phát nổ một thiết bị hạt nhân vào năm 1949, dân thường Mỹ cũng như các nhà lãnh đạo của Quốc gia nhận ra bạo chúa tàn ác, Joseph Stalin, vừa tăng cường sức mạnh hòng tiêu diệt các thành phố theo ý thích. Nhận thức này tô điểm chiến tranh lạnh thời kỳ đầu với màu sắc của ngày tận thế. Mặc dù chiến tranh lạnh bản thân nó chưa bao giờ để mất đi tiềm năng trở thành một cuộc xung đột hủ diệt văn minh nhân hoại, cái chết của Stalin tháng 3/1953  làm dịu căng thẳng Xô-Mỹ một cách đáng ghi nhận. Với hoạt động gián điệp kém thành công, Liên Xô có thể không phát triển bom cho đến khi Stalin chết, và chiến tranh lạnh thời kỳ đầu có thể đã diễn biến theo một chặng đường ít đáng sợ hơn.

Việc giải mã Venona xác định hầu hết các điệp viên Liên Xô được che giấu bởi phản gián của Mỹ từ 1948 đến giữa năm 1950s. Các kỹ năng và sự kiên trì của những nhà giải mã Venona dẫn Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) và Cơ quan tình báo Anh (MIS) đến tên điệp nguyên tử Klaus Fuchs. Các tài liệu. Venona không lẫn đi đâu được xác định Julius Rosenberg là người đứng đầu một đường dây gián điệp của Liên Xô và David Greenglass, anh rể của hắn, là một nguồn tin cho Liên Xô tại cơ sở bom nguyên tử bí mật Los Alamos, New Mexico. Dẫn từ điện tín giải mã đã phát hiện nhà ngoại giao cấp cao Anh Donald Maclean là một gián điệp lớn trong đại sứ quán Anh ở Washington đã bay của mình đến Liên Xô, cùng với ngoại giao đồng nghiệp của mình và cũng là gián điệp Guy Burgess. Việc bắt giữ và truy tố các điệp viên như Judith Coplon, Robert Soblen, và Jack Soble là khả thi vì tình báo Mỹ đã có thể đọc báo cáo của Liên Xô về các hoạt động của họ. Các cáo buộc của cựu điệp viên Liên Xô Elizabeth Bentley rằng một số quan chức chính phủ cấp trung tá, chủ yếu là Cộng sản nằm vùng, đã hỗ trợ tình báo Liên Xô được chứng thực trong các tài liệu Venona và đảm bảo với Mỹ về tính xác thực của cô.

Tuy nhiên, với sự ra đời của Chiến tranh Lạnh, các điệp viên được xác định rõ trong giải mã Venona chỉ là bề nổi. Coplon, Rosenberg, Greenglass, Fuchs, Soble, và Soblen đã bị truy tố, và phần còn lại bị trục xuất ra khỏi chính phủ hoặc trung lập như mối đe dọa đối với an ninh Quốc gia. Nhưng điều đó vẫn để lại một cơn ác mộng an ninh. Trong số 349 người Mỹ mà điện tín Venona giải mã, tiết lộ mối quan hệ bí mật với cơ quan tình báo Liên Xô, khoảng một nửa có thể được xác định bằng tên thật của họ và gần hai trăm tên vẫn còn ẩn đằng sau cái mật danh. Các quan chức Mỹ cho rằng một số sau này chắc chắn vẫn còn làm việc ở các vị trí nhạy cảm. Nếu họ được thăng chức và chuyển sang những công việc hoạch định chính sách thì sao ? Nếu Muse, nữ điệp vụ không xác định trong OSS, đã thành công trong việc chuyển đến Bộ Ngoại giao hoặc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) thì sao ? Chúng ta biết những gì về nguồn gốc của No.19, người đã đủ cao cấp để gặp riêng với Churchill và Roosevelt tại Hội nghị Trident? Có phải nguồn tin chưa xác định Bibi làm việc cho một cơ quan viện trợ nước ngoài của nước Mỹ ? Có phải Donald, đội trưởng Hải quân không rõ là ai, lại là một GRU (quân tình báo Liên Xô), kẻ vẫn còn mặc đồng phục, có lẽ thời gian này đang giữ cấp hàm Đô đốc? Và chúng ta biết những gì về hai điệp viên nguyên tử không xác định Quantum và Pers? Họ đã cho Stalin những bí mật về uranium và plutonium bom: bây giờ họ có đang đi vào những bí mật của loại bom nguy hiểm hơn -hydrogen? Và làm phải thế nào với Dodger, Godmother, và Fakir? Thông điệp mà Venona giải mã cho thấy, cả ba đã cung cấp cho KGB thông tin về các nhà ngoại giao Mỹ, những người chuyên về các vấn đề Liên Xô. Fakir bản thân anh ta đang được xem xét cho một vị trí đại diện cho Hoa Kỳ tại Moscow. Các nhân viên phục vụ đối ngoại của Mỹ đồng thời cũng là chuyên gia Liên Xô những kẻ phản bội? Làm thế nào người Mỹ có thể đàm phán thành công với Liên Xô khi các nhóm đàm phán của mình lại bao gồm người làm việc cho phía bên kia ? Tây Âu, rõ ràng, sẽ là chiến trường chính của Chiến tranh Lạnh. Để mất nó có để mất tất cả: nhiệm vụ xây dựng lại nền dân chủ ổn định trong thời hậu chiến châu Âu rèn giữa liên minh quân sự NATO trở thành thách thức ngoại giao chính của Mỹ. Song Venona cho thấy, KGB đã có Mole, mật danh phù hợp với một kẻ bán tin cho Liên Xô bên trong Washington người đã thông qua hướng dẫn chính sách ngoại giao cấp cao của Mỹ về châu Âu với Moscow. Khi các quan chức Mỹ gặp nhau để thảo luận về các vấn đề nhạy cảm thỏa thuận với Pháp, Anh, Ý, hay Đức, Mole có hiện diện và làm thất bại các mục tiêu của nước Mỹ không ? Gián điệp tấn công của Stalin đã không chỉ phát hiện ra bí mật của Mỹ, nó còn ảnh hưởng tới sự tin tưởng mà các quan chức Mỹ đã dành cho nhau.

Có nhiều lý do thích hợp cho quyết định giữ Verona tối mật cách biệt trong chính phủ. Tuy nhiên, khi nhìn lại, những hậu quả tiêu cực của chính sách này là rõ ràng. Nếu Venona được công bố, dường như sẽ không phải tốn một chiến dịch bốn mươi năm để chứng minh rằng Rosenbergs vô tội. Các thông điệp Venona hiển thị rõ ràng vai trò Julius Rosenberg như kẻ lãnh đạo của một vành đai của các điệp viên năng nổ của Liên Xô. Cũng sẽ không có bất cứ cơ sở để nghi ngờ về sự tham gia của anh ta vào hoạt động gián điệp nguyên tử, bởi vì các thông điệp được giải mã cung cấp tài liệu cho thấy ông anh rể của anh ta, David Greenglass, với vai trò một điệp viên. Nếu những thông điệp được công bố hoặc thậm chí lưu hành rộng rãi hơn trong chính phủ, Ethel Rosenberg dường như sẽ bị thi hành án. Các thông điệp Venona không đặt tội lỗi của cô ấy vào vòng nghi ngờ; thực sự, chúng đã xác nhận luôn rằng cô là một người tham gia trong hoạt động gián điệp của chồng mình và trong việc chiêu mộ gián điệp nguyên tử của anh trai cô. Nhưng họ cho rằng cô thực chất là một công cụ cho hoạt động của chồng, có kiến thức về nó và giúp anh ta nhưng không hành động như một kẻ chỉ huy. Nếu chúng được đề trình tại phiên tòa Rosenberg, các tin nhắn Venona sẽ khẳng định tội lỗi của Ethel nhưng cũng làm giảm tầm quan trọng trong vai trò của cô.

Hơn nữa, các thông điệp Venona, nếu được công bố, có thể sẽ khiến cho những lời bào chữa Julius Rosenberg ít có tác dụng hơn. Khi Julius Rosenberg đối mặt với phiên tòa, chỉ có hai điệp viên nguyên tử của Liên Xô đã được biết: David Greenglass, người mà Rosenberg đã tuyển dụng và vận hành như một nguồn đưa tin, cùng với Klaus Fuchs. Fuchs, tuy nhiên, lại ở Anh, vì vậy Greenglass chỉ là điệp viên nguyên tử của Liên Xô dưới ánh đèn truyền thông Hoa Kỳ. Lời xưng tội của Greenglass đã để cho Julius Rosenberg thành một mục tiêu cho sự phẫn nộ của công chúng nhắm vào gián điệp nguyên tử. Các công tố viên sẽ yêu cầu và nhận án tử hình trong những hoàn cảnh như vậy cũng không phải là đáng ngạc nhiên.

Tuy nhiên, ngoài Fuchs và Greenglass, các tin nhắn Venona còn xác định ba nguồn tin Liên Xô khác trong Dự án Manhattan. Các thông điệp cho thấy Theodore Hall, một nhà vật lý trẻ tại Los Alamos, chính là một nguồn tin giá trị hơn nhiều so với Greenglass, một thợ máy. Hall  đã trụ vững  qua vòng thẩm vấn của FBI, và chính phủ không có bằng chứng trực tiếp về tội ác của y, ngoại trừ những thông điệp Venona, mà bởi vì tính bí mật nên không thể được sử dụng tại tòa; do đó hắn đã thoát truy tố. Các xác minh thực tiễn về nguồn tin Fogel và Quantum đều vô vọng, nhưng các thông tin mà họ chuyển cho Liên Xô cho thấy Quanrum chính là một nhà khoa học của một số khâu dự án và Fogel cũng là một nhà khoa học hay một kỹ sư. Cả hai đều có thể là nguồn tin có giá trị hơn so với David Greenglass. Nếu Venona được công bố, Greenglass sẽ chia sẻ sân khấu với ba điệp viên nguyên tử khác và không chỉ với Fuchs, và cả ba sẽ xuất hiện gây thiệt hại nhiều cho an ninh của Mỹ hơn hắn ta. Với việc vai trò của Greenglass bị giảm đi, cùng với đó vai trò của nhà tuyển dụng hắn ta, Julius Rosenberg, cũng sẽ được giảm đáng kể. Rosenberg chắc chắn đã bị kết án, nhưng hình phạt của hắn có lẽ là chung thân chứ không phải hành quyết.

Có những hậu quả to lớn hơn, cũng như, quyết định giữ bí mật Venona. Các vấn đề chồng chéo về cộng sản trong chính phủ, hoạt động gián điệp của Liên Xô, và sự trung thành của người Cộng sản Mỹ nhanh chóng trở thành một chiến trường đảng phái. Được dẫn dắt bởi thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Joseph McCarthy Wisconsin, một số người bảo thủ và đảng viên Cộng hòa, họ đã phát động một cuộc tấn công toàn diện đến lòng trung thành của chính quyền Roosevelt và Truman. Một số tô vẽ toàn bộ chương trình Kinh tế mới là một âm mưu cộng sản trá hình và mô tả Dean Acheson, thư ký Nhà nước của Truman, cùng George C. Marshall, trưởng nhân viên Quân đội dưới Roosevelt và thư ký của Nhà nước; Bộ trưởng quốc phòng dưới Truman, như những kẻ có liên quan, trong những lời của Thượng nghị sĩ McCarthy “một âm mưu trên quy mô lớn hơn bất kì thứ gì trước đó trong lịch sử loài người. Một âm mưu ô nhục đen tối, khi nó cuối cùng bị bại lộ, những luật lệ của nó sẽ mãi mãi xứng đáng với sự cương trực của tất cả những con người trung thực.” Không có cơ sở gì trong Venona để ám chỉ Acheson hoặc Marshall cho một âm mưu Cộng sản, nhưng vì những thông điệp được Venona giãi mã Venona được phân loại và giữ kín công chúng, người mị dân như McCarthy đã có cơ hội để kết hợp các thông tin chính xác với nhau về sự phản bội của những người như Harry trắng và Alger Hiss cùng với những lời giả dối về Acheson và Marshall nhằm phục vụ mục tiêu chính trị đảng phái.

Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy

Một số nhà Dân chủ và cấp tiến nhắm vào những lời buộc tội McCarthy để biện minh cho việc bản thân từ chối các cáo buộc. Chủ nghĩa chống cộng thêm mất uy tín trong những năm cuối 1960s khi có các lời phê bình về sự nhúng tay của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, đổ lỗi cho sự xuống dốc của nước Mỹ. Đến năm 1980 nhiều nhà bình luận, và có lẽ hầu hết các nhà sử học, kết luận rằng hoạt động tình báo của Liên Xô đã được thu nhỏ, rằng chỉ vài người Cộng sản Mỹ đã hỗ trợ cho Liên Xô, và rằng không có quan chức cấp cao phản bội Hoa Kỳ. Nhiều văn bản lịch sử miêu tả nước Mỹ vào cuối năm 1940 và năm 1950 như là một “cơn ác mộng Đỏ”, trong đó người Mỹ đã “mồ hôi ướt đẫm trong sợ hãi” vì một điều bịa đặt của trí tưởng tượng hoang tưởng của riêng mình. Đối với những người Cộng sản Mỹ, họ công bố như thể không có kết nối với hoạt động gián điệp. Một cuốn sách có ảnh hưởng khẳng định một cách dứt khoát, “Không có tài liệu nào trong hồ sơ đại chúng về mối quan hệ trực tiếp giữa Đảng Cộng sản Mỹ và hoạt động gián điệp trong suốt thời kỳ hậu chiến.”

Do đó, Cộng sản đã được mô tả như những nạn nhân vô tội của một chính phủ Hoa Kỳ bất hợp lý và đầy áp bức. Bức chân dung nham hiểm nhưng được chấp nhận rộng rãi của Mỹ trong những năm 1940 và 1950 về một Nhà đàm phán mới nổi Alger His bị ném vào nhà tù chỉ vì ám ảnh chống Cộng bệnh hoạn. Whittaker Chambers, người cấp tiến vô tội; gia đình Rosenbergs đã bị đưa đến ghế điện vì vu tội gián điệp, chống do Thái; và hàng chục cán bộ công chức đã bị hủy hoại sự nghiệp bởi các vết nhơ của một chuyên gia chống Cộng Elizabeth Bentley. Theo cách nhìn nhận này của sự kiện, một quan chức chính phủ Harry White đã bị giết chết bởi một cơn đau tim gây ra bởi những lời dối trá của Bentley, và một người khác Laurence Duggan, một nhà ngoại giao cấp ca đã bị đẩy đến bước tự tử bằng lời giả dối ác mồm của Chamber. Tương tự như vậy, trong nhiều sách giáo khoa chỉ định của Tổng thống Truman phủ nhận mọi nhân viên chính phủ đối với những ai đặt ra rủi ro an ninh, và các luật khác nhằm mục đích lật tẩy gián điệp và thân Cộng, điều này đã và vẫn được mô tả không phải được thúc đẩy bởi một mối quan tâm thực sự cho an ninh của Mỹ (kể từ khi sự tồn tại của bất kỳ hoạt động gián điệp nghiêm trọng hoặc lật đổ bị phủ nhận) mà thay vào đó là ý thức tấn công phản dân vào các quyền tự do cơ bản. Như một nhà bình luận đã viết, “Những cuốn sách luật nằm rên rỉ trong vài nhiệm kì của ngành hành pháp được thiết kế để cấm người bất đồng chính kiến.”

Chính quyền Truman đã dự kiến ​​vào cuối Thế chiến II sẽ cho phép tháo dỡ các bộ máy quân sự khổng lồ tạo ra để đánh bại phát xít Đức và đế quốc Nhật. Chính phủ đã cắt giảm ngân sách quân sự, biến nhà máy vũ khí thành hãng sản xuất dân sự, nghĩa vụ quân sự đã kết thúc, và trả lại hàng triệu binh sĩ về với cuộc sống bình thường. Vì vậy, tình báo trong thời chiến và bộ máy an ninh cũng được xuất ngũ.  Dự đoán chỉ cần giới hạn tình báo nước ngoài và nói rằng ông không cần gián điệp Gestapo  người Mỹ nữa, Tổng thống Truman đã bãi bỏ Cơ quan tình báo chính của Mỹ, Văn phòng phục vụ chiến lược. Với việc xuất hiện của hòa bình, các quy tắc khẩn cấp thời chiến về rà soát an ninh của nhiều nhân viên chính phủ mất hiệu lực hoặc đã bị bỏ qua.

Vào cuối năm 1945 và năm 1946, Nhà Trắng đã phản ứng với một loạt sự thờ ơ và hoài nghi về báo cáo của FBI cho thấy hoạt động tình báo của Liên Xô là rất đáng kể tại Hoa Kỳ. Các quan chức chính quyền Truman thậm chí tẩy trắng bằng chứng liên quan đến các hành vi trộm cắp tài liệu của Mỹ trong vụ Amerasia năm 1945 bởi vì họ không muốn đưa liên minh quân sự Xô-Mỹ vào nguy cơ và muốn tránh sự bối rối chính trị về một vụ bê bối an ninh. Tuy nhiên, vào đầu năm 1947, sự thờ ơ này đã kết thúc. Việc thu thập thông tin từ những kẻ đào thoát như Elizabeth Bentley và Igor Gouzenko, cùng với giãi mã Venona, làm quan chức cấp cao chính quyền Truman nhận ra rằng báo cáo của các gián điệp của Liên Xô chiếm số lượng lớn hơn FBI từng hoang tưởng. Không một chính phủ có thể hoạt động thành công nếu bỏ qua các thách thức đối với tính toàn vẹn của bản thân khi mà gián điệp tấn công của Stalin hiện diện. Ngoài ra, Nhà Trắng đã cảm nhận rằng có yếu tố cho viễn cảnh một chiến dịch gián điệp hoành tráng phía Liên Xô, với sự hỗ trợ của Cộng sản Mỹ, rằng chính quyền Truman dễ bị tổn thương vì những lời buộc tội của đảng Cộng hòa vì đã bỏ qua một mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh của Mỹ. Tổng thống Truman đảo chiều và tháng 3 năm 1947 ban hành một sắc lệnh thiết lập chương trình bảo mật rà soát toàn diện mọi nhân viên chính phủ Hoa Kỳ. Ông cũng thành lập Cơ quan Tình báo Trung ương, một phiên bản mạnh mẽ hơn và lớn hơn của cơ quan OSS, mà ông đã bãi bỏ chỉ hai năm trước đó. Năm 1948, chính quyền Truman theo dõi các hành vi bằng truy tố các nhà lãnh đạo của CPUSA dưới các điều khoản của Đạo luật Smith năm 1940. Trong khi dự án Venona và các thông điệp được mã hóa tự chúng vẫn còn nằm vòng bí mật, nội dung của các tin nhắn  cùng với tên biệt hiệu của người Mỹ đã hỗ trợ hoạt động tình báo của Liên Xô tồn tại trong giới quan chức an ninh dân sự lẫn quân sự của quân đội Mỹ. Từ các quan chức an ninh thông tin đến những người điều hành cơ quan chính trị được bổ nhiệm, và các dân biểu của Quốc hội. Họ, lần lượt, tuồn nó cho các nhà báo và các nhà bình luận, những người chuyển tải những tin tức chấn động này cho đa số công chúng.

 

Chia sẻ

Bình Luận