Sơ lược về mặt trận Châu Á-Thái Bình Dương trong Thế Chiến 2

Sau một thời gian nỗ lực đàm phán với Hoa Kì, nhưng không có kết quả([1]), ngày 7.12.1941, Nhật bất thần tổ chức một cuộc tấn công ồ ạt bằng không quân vào hạm đội Thái Bình Dương của Mĩ đang neo đậu tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) trong quần đảo Hawaii, Cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương (hay Chiến tranh Đại Đông Á, theo cách gọi của người Nhật) khởi phát([2]).

Chỉ trong một thời gian ngắn – từ tháng 12. 1941 đến tháng 5.1942, Nhật đã kiểm soát toàn bộ các xứ thuộc địa và phụ thuộc của các cường quốc phương Tây ở Viễn Đông (các xứ Đông Nam Á, Hongkong, nhiều căn cứ quân sự của Hoa Kì ở Thái Bình Dương). Tuy nhiên, ngay trong tháng 5.1942, tại vùng biển San Hô (Coral Sea), sức tiến công của Nhật đã bắt đầu kiệt, khi hải quân nước này lần đầu tiên đã chẳng những không tiêu diệt được đối phương, mà còn chịu những tổn thất nặng không sao bù đắp nổi. Trận Midway diễn ra chỉ một tháng sau đó cho thấy gió đã đổi chiều: từ nay quyền chủ động trên chiến trường thuộc về quân Mĩ, còn quân Nhật phải chuyển sang thế phòng ngự.

Về phần mình, người Anh đã phải bằng lòng với vai trò thứ yếu trong các hoạt động quân sự của Đồng minh, sau khi các chiến hạm tối tân nhất của họ – Prince of Wales và Repulse – bị đánh đắm ngay trong những ngày đầu của cuộc chiến.

trân châu cảng
Cuộc phục kích thành công của Nhật vào Trân Châu Cảng buộc nước Mỹ phải chính thức tham chiến. Từ đây, cục diện thế chiến bắt đầu thay đổi với sự tham gia của siêu cường mạnh nhất thế giới.

Riêng Liên Xô đã kí với Nhật Bản Hiệp ước Trung lập (13.4.1941) có giá trị trong vòng 5 năm và cả hai nước đều không lên tiếng phủ nhận giá trị của văn kiện ngoại giao này sau sự kiện ngày 7.11.1941. Và thực tế là mãi đến ngày 8.8.1945, Liên Xô mới ra lời tuyên chiến chống Nhật và khởi sự các hoạt động quân sự ở Mãn Châu.

Như vậy, hầu như toàn bộ gánh nặng cuộc chiến chống Nhật đều do Hoa Kì gánh vác. Đó là lí do khiến Hoa Kì có tiếng nói quyết định trong các hoạt động đối ngoại của Đồng Minh ở Viễn Đông trong thời gian chiến tranh.
Không lâu sau khi chiến tranh bắt đầu, chính phủ Roosevelt đã vạch ra một chính sách mới đối với Trung Quốc với những đường nét chính như sau: “Đối với Trung Quốc, chúng ta có hai mục tiêu. Thứ nhất là cùng chung tiến hành chiến tranh một cách có hiệu quả. Thứ hai là nhìn nhận và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc ngang hàng với ba đồng minh phương Tây của nó: Nga, Anh và Hoa Kì, cả trong và sau thời gian chiến tranh, vừa để chuẩn bị cho công cuộc tổ chức thời hậu chiến, vừa để tạo dựng sự ổn định và phồn vinh ở phương Đông” .

Tháng 12.1942, đường hướng trên được Bộ Ngoại giao xác định như là một phần của kế hoạch tổng thể cho hoạt động đối ngoại của Hoa Kì thời hậu chiến. Theo đó, sau chiến tranh, bốn đại cường thắng trận  – Hoa Kì, Liên Xô, Anh và Trung Quốc – sẽ chia nhau kiểm soát thế giới. Trong khuôn khổ của trật tự mới này, Anh sẽ tiếp tục là Đồng Minh, nhưng ngày càng lệ thuộc Mĩ, còn những nước từng là cựu thuộc địa và đang nằm trong Khối Thịnh vượng chung, như Canada, Australia  và New Zealand sẽ rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của Mĩ. Trung Quốc, được vươn lên địa vị cường quốc thế giới nhờ sự đỡ đầu của Washington và thêm nữa, được đứng chung trong một liên minh an ninh song phương với Mĩ([3]) tất sẽ ủng hộ mọi bước đi của nước này trên trường quốc tế, đặc biệt là ở Viễn Đông. Về phần Liên Xô, nước có chế độ chính trị và xã hội hoàn toàn khác với Mĩ và một quân đội hùng mạnh dạn dày kinh nghiệm chiến đấu, tất sẽ không cam chịu bị Mĩ chi phối. Khi đó, Liên Xô sẽ có một đối trọng là Trung Quốc ở Viễn Đông và một đối thủ không khoan nhượng là Anh ở châu Âu.

Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc

Lần đầu tiên chính phủ Washington chính thức mang ra thực hiện chính sách nâng Trung Quốc lên địa vị một trong các đại cường thế giới, ngang hàng với Hoa Kì, Liên Xô và Anh, đó là khi Trung Quốc được mời kí vào bản Tuyên bố của bốn đại cường về nền An ninh chung được công bố tại Moskva ngày 30.10.1943. Văn kiện thừa nhận Trung Quốc có quyền và có trách nhiệm dự phần cùng với các cường quốc khác vào sự nghiệp tiến hành chiến tranh, tổ chức nền hoà bình và thiết lập một bộ máy cho quan hệ cộng tác quốc tế thời hậu chiến.

Từ ngày 23 đến ngày 25.11.1943, Trung Quốc được mời tham dự Hội nghị Cairo diễn ra ngay trước Hội nghị Teheran. Đây là lần đầu tiên từ khi ra đời (1911), Trung Hoa Dân quốc được đối xử như một cường quốc thế giới, vì hai người đối tác với Tưởng Giới Thạch – người lãnh đạo Trung Quốc – là tổng thống Hoa Kì F. Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill. Bản Thông cáo chung của hội nghị được công bố ngày 1.12 với sự tán thành của nhà lãnh đạo Liên Xô I. Stalin ghi rõ rằng “Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ mà Nhật đã tước đoạt của Trung Quốc sẽ được hoàn trả cho Cộng hòa Trung Hoa” [19, tr.519].

Trong những năm tháng sau đó, tuy Trung Quốc không được mời tham dự các hội nghị Teheran, Yalta và Potsdam, quyền lợi của Trung Quốc không vì thế mà bị lãng  quên. Các Hội nghị Yalta và Potsdam đều tái khẳng định nội dung đã được nêu trên của Hội nghị Cairo, và thậm chí khi chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc, Trung Quốc còn được giao nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật không chỉ ngay trên lãnh thổ mình, mà cả trên bán đảo Đông Dương ở phía bắc vĩ tuyến 16. Nhưng quan trọng hơn cả là Trung Quốc đã có mặt ở Hội nghị Dumbarton Oaks (diễn ra từ ngày 29.9 đến ngày 7.10.1944) và Hội nghị San Francisco (diễn ra từ ngày 25.4 đến ngày 26.6.1945) trong tư cách là một trong bốn nước đồng bảo trợ Tổ chức Liên hiệp Quốc. Chiếc ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an – cơ quan quyền lực cao nhất của tổ chức quốc tế này – đã xác nhận vai trò của Trung Quốc trong thời hậu chiến, ngang hàng với bốn đại cường Âu – Mĩ: Liên Xô, Hoa Kì, Anh và Pháp.

Như vậy, phải chăng vào giữa thập niên 40, Trung Quốc đã tích lũy đủ thực lực của một cường quốc thế giới ? Thực ra,  còn phải đợi rất lâu nữa Trung Quốc mới đạt đến vị thế này([4]). Đã vậy, những gì mà Trung Quốc thu đoạt được trong những năm tháng chiến tranh rõ ràng là lớn hơn nhiều so với phần đóng góp của nước này vào sự nghiệp đánh bại quân phiệt Nhật.

cộng sản Trung Quốc
Ngày 1/10/1949, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập, đánh dấu sự thất bại của Mỹ khi để đại lục “nhuộm đỏ”.

Vai trò của Hoa Kì trong nỗ lực nâng cao địa vị của Trung Quốc trên trường quốc tế không dừng lại ở đó. Trong “Hồ sơ cố vấn” không đề ngày được chuẩn bị cho tổng thống Roosevelt nhân Hội nghị Yalta, các quan chức có trách nhiệm ở Bộ Ngoại giao đã viết: “Chính sách lâu dài của chính phủ Mĩ đối với Trung Quốc đặt nền tảng trên niềm tin rằng nhu cầu để Trung Quốc trở thành nhân tố chính ở Viễn Đông là yêu cầu cơ bản cho hoà bình và an ninh ở vùng này. Để phù hợp, chính sách của chúng ta được hướng vào các mục tiêu sau:

  1. Chính trị: một Trung Quốc mạnh, ổn định và thống nhất với một chính phủ đại diện cho các nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc:
  2. a) Chúng ta bằng mọi cách thích hợp thúc đẩy việc thành lập một chính thể đại nghị rộng rãi. Chính thể này sẽ mang lại sự thống nhất trong nước, bao gồm cả việc hòa giải khác biệt Quốc – Cộng và hoàn thành một cách có hiệu quả các trách nhiệm trong nước và ngoài nước của mình” [18, tr.353].

Tháng 6.1944, tổng thống F. Roosevelt đã phái phó tổng thống Henry Wallace sang Trung Quốc với chỉ thị dàn xếp mâu thuẫn giữa Quốc dân đảng (QDĐ) và đảng Cộng sản (ĐCS) và khôi phục sự tin cậy lẫn nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc [Xem chi tiết trong 19, tr.550 và 555 và 59, tr.460].

Từ đó cho đến khi chiến tranh Thái Bình Dương chấm dứt, các đại sứ của Hoa Kì ở Trung Quốc – Clarence E. Gauss và Patrick J. Hurley (từ tháng 12.1944) – đã được Washington chỉ thị tích cực thúc đẩy tiến trình thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc vào mục tiêu đánh bại Nhật và góp phần vào việc tìm kiếm một giải pháp nhanh chóng cho vấn đề nội bộ Trung Quốc theo cách thu xếp để QDĐ và ĐCS ngồi lại với nhau. Các đại diện chính phủ Mĩ đã không ít lần yêu cầu những người cầm đầu chính phủ Trùng Khánh không nên có những động thái làm cho quan hệ Quốc – Cộng xấu đi (Xem chi tiết trong 39, tr.187 – 196].

Để thực hiện đường lối của Washington đối với Trung Quốc, các nhà ngoại giao Mĩ không chỉ tiến hành các cuộc vận động ở phía chính phủ Tưởng Giới Thạch, mà họ còn tìm đến tận chiến khu Diên An để tiếp xúc trực tiếp với Mao Trạch Đông, người đứng đảng Cộng sản Trung Quốc. Ở đây cũng cần lưu ý rằng ngay từ đầu, chính phủ F. Roosevelt đã tán đồng “giải pháp  Tưởng Giới Thạch” cho vấn đề Trung Quốc được đại sứ Patrick Hurley trình bày như sau trong báo cáo gửi về Washington tháng 2.1945: “Tôi nghĩ rằng chính phủ chúng ta đã đúng trong quyết định ủng hộ chính phủ quốc dân Trung Quốc và quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch. Tôi không tán thành hay ủng hộ bất kì nguyên tắc nào, mà  theo ý tôi sẽ làm suy yếu chính phủ quốc dân hay quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch” [19,tr.72].

Chính sách của Mỹ đối với Nhật

Trước cả khi chiến tranh Thái Bình Dương khởi phát, chính phủ Hoa Kì đã đồng ý với quan điểm của các nhà chỉ huy quân sự hàng đầu là đặt thành ưu tiên nhiệm vụ đánh bại Đức, và do vậy chọn châu Âu là chiến trường chính.

Sau khi trực tiếp tham chiến, chính phủ Roosevelt luôn bày tỏ mong muốn Liên Xô sẽ sớm tham gia cuộc chiến chống Nhật, một khi Đức bị đánh bại. Tháng 10.1943, khi sang Moskva đàm phán với hai người đồng nhiệm Anh và Liên Xô, bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì Cordell Hull đã được Stalin hứa hẹn rằng Liên Xô sẽ sớm tham gia chiến tranh Thái Bình Dương ngay sau khi Đức bị đánh bại.

Nhà lãnh đạo Liên Xô đã xác nhận lại lời hứa trên tại Hội nghị Teheran (28.11 – 1.12.1943 ). Cũng tại Hội nghị này, Roosevelt đã quyết định số phận dành cho Nhật và hai nước còn lại trong phe Trục là “đầu  hàng không điều kiện” và “triệt bỏ những thứ tư tưởng mà các nước đó đã sử dụng như là nền tảng để chinh phục và nô dịch các dân tộc khác”.

Tại Hội nghị Yalta (4 – 11.2.1945), lời hứa tham chiến chống Nhật của Liên Xô trở thành cam kết chắc chắn, sau khi Roosevelt thỏa mãn một số điều kiện mà Stalin đã đặt ra. Cùng với W. Churchill, cả hai đã kí vào bản thỏa thuận bí mật đề ngày 11.2 nêu rõ những quyền lợi Liên Xô sẽ được hưởng.

Toàn văn kiện là như sau:

“Các nhà lãnh đạo của ba đại cường – Liên Xô, Hoa Kì và Anh – thỏa thuận rằng trong vòng hai hay ba tháng sau khi Đức đầu hàng và chiến tranh ở châu Âu chấm dứt, Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật bên cạnh các đồng minh với những điều kiện sau:

Hiện trạng ở Ngoại Mông (Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ) sẽ được giữ nguyên;

Các quyền lợi của Nga đã bị cuộc tiến công bội ước của Nhật năm 1904 xâm phạm sẽ được phục hồi, cụ thể là:

a) phần nam Sakhalin cũng như tất cả những đảo kề bên sẽ được giao hoàn về cho Liên Xô;

b) thương cảng Đại Liên sẽ được quốc tế hóa, quyền lợi ưu đãi của Liên Xô ở cảng này sẽ được đảm bảo và hợp đồng thuê cảng Lữ Thuận làm quân cảng của Liên Xô sẽ được phục hồi;

c) đường sắt Đông Trung Quốc và đường sắt Nam Mãn Châu dẫn đến cảng Đại Liên sẽ được điều hành bằng một công ty liên doanh Xô-Trung được thành lập theo thỏa thuận rằng các quyền lợi ưu tiên của Liên Xô sẽ được đảm bảo, còn Trung Quốc sẽ giữ nguyên tất cả chủ quyền đối với Mãn Châu

d) quần đảo Kuril sẽ được chuyển giao cho Liên Xô.

Các bên đạt được hiểu biết rằng thỏa thuận liên quan đến Ngoại Mông Cổ và các cảng và đường sắt nêu trên cần được sự tán thành của đại nguyên soái Tưởng Giới Thạch. Ngài tổng thống sẽ thực hiện các bước đi nhằm tranh thủ sự tán thành này theo lời khuyên của ngài Stalin ([5]).

Những người đứng đầu của ba đại cường đồng ý rằng những yêu cầu của Liên Xô sẽ đương nhiên được đáp ứng đầy đủ khi Nhật bị đánh bại.

Về phần mình, Liên Xô bày tỏ thái độ sẵn sàng kí với Chính phủ Quốc dân Trung Quốc một hiệp ước hữu nghị và liên minh giữa Liên Xô và Trung Quốc nhằm trợ giúp Trung Quốc bằng quân đội và vì mục đích giải phóng Trung Quốc khỏi ách thống trị của Nhật” [11, tr.254 – 255].

Vào thời điểm Hội nghị Yalta diễn  ra, người Nhật không còn hi vọng gì vào một kết thúc sáng sủa của cuộc chiến. Thực ra, họ đã nhận ra sự thật hiển nhiên này trước đó khá lâu. Không lâu sau khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandy, chính Hoàng đế Nhật đã yêu cầu chính phủ xem xét khả năng chấm dứt chiến tranh và vận động vai trò trung gian của Liên Xô, cường quốc Đồng Minh duy nhất chưa lâm chiến với Nhật. Nhưng đáp lại các cuộc vận động của Nhật là câu trả lời thoái thác của Liên Xô, để rồi ngày 5.4.1945, chính phủ Moskva ra tuyên bố bãi bỏ Hiệp ước Trung lập Xô – Nhật. Cũng vào ngày này, trận chiến giành Okinawa, chướng ngại cuối cùng ngăn trở cuộc đổ bộ của quân Mĩ lên lãnh thổ chính quốc Nhật (bao gồm 4 đảo lớn: Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku) khởi diễn và kết thúc vào giữa tháng 6 bằng thắng lợi của quân Mĩ.

Giữ lại Nhật Hoàng Hirohito, bước đi sáng suốt và chiến lược của tướng Douglas Macarthur để tránh làn sóng cộng sản từ Liên Xô

Ngày 26.7.1945, giữa lúc Hội nghị Potsdam còn đang diễn ra, một bản tuyên cáo mang chữ kí của tổng thống Hoa Kì H. Truman, thủ tướng Anh Clement Atlee và người đứng đầu Nhà nước Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đã được công bố với sự đồng ý về nội dung của nhà lãnh đạo xô viết I. Stalin [8, tr.177]([6]). Tuyên cáo nhấn mạnh Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, nếu không “sẽ bị hủy diệt nhanh chóng và hoàn toàn”. Tuyên cáo nêu rõ chính sách của các  nước Đồng Minh đối với Nhật sẽ là:

– Vĩnh viễn loại trừ chủ nghĩa quân phiệt và xây dựng một chế độ mới, hoà bình, an ninh và công lí;

– Lãnh thổ Nhật sẽ chỉ còn lại 4 đảo lớn là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku và các đảo nhỏ kề bên;

– Các tội phạm chiến tranh sẽ bị trừng phạt, các quyền tự do ngôn ngữ, tư tưởng, tôn giáo và những quyền cơ bản khác của con người sẽ được tôn trọng;

– Các nội dung của Tuyên bố Cairo phải được thực hiện;

– Nhật phải bồi thường chiến tranh và giải tán nền công nghiệp chiến tranh;

– Quân đội Nhật phải bị giải giáp hoàn toàn;

– Lực lượng Đồng Minh sẽ chiếm đóng Nhật cho đến khi những chính sách trên được hoàn thành và cho đến lúc “một chính phủ có xu hướng hoà bình và có trách nhiệm được thành lập phù hợp với ý nguyện được tự do bày tỏ của nhân dân Nhật”.

Bản Tuyên cáo cũng đưa ra lời trấn an rằng “người Nhật cũng sẽ không bị biến thành một dân tộc bị nô dịch và nước Nhật sẽ không bị triệt hạ”.

Ngày 28.7, thủ tướng Nhật tuyên bố “không tìm thấy trong tuyên cáo của Đồng Minh một giá trị quan trọng nào” và “do vậy chẳng có cách nào khác hơn là hoàn toàn không biết đến nó” [Dẫn lại theo 57, tr.268]. Tokyo chỉ thay đổi thái độ sau khi Mĩ thả liên tiếp hai quả bom nguyên tử xuống Hisoshima (ngày 6.8) và Nagasaki (ngày 9.8) và Liên Xô ra lời tuyên chiến chống Nhật (8.8). Ngày 14.8, chính phủ Nhật chấp nhận đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện theo tinh thần và nội dung của Tuyên cáo Potsdam.

Ngày 2.9.1945, trên chiến hạm Missouri neo đậu trong vịnh Tokyo, các đại diện của Nhật đã kí vào văn kiện đầu hàng trước sự hiện diện của tướng MacArthur, tổng tư lệnh quân Đồng Minh ở mặt trận Tây-Nam Thái Bình Dương.

Ghi chú:

([1])   Về quan hệ Hoa Kì – Nhật và chính sách của chính phủ Washington đối với Nhật trong khoảng thời gian từ cuối thập niên 30 đến tháng 12.1941, độc giả có thể tham khảo Lê Phụng Hoàng, Franklin D. Roosevelt, tiểu sử chính trị, tủ sách Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2004, từ trang 92 đến trang 109.

([2])  Về cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, độc giả nào quan tâm có thể tìm đọc Lê Vinh Quốc   Huỳnh Văn Tòng, Cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945), NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2002.

([3])  Tại Hội nghị Cairo (11.1943), tổng thống F. Roosevelt đã hứa với Tưởng Giới Thạch rằng Hoa Kì sẽ kí Hiệp ước An ninh song phương với Trung Quốc sau khi chiến tranh chấm dứt.

([4])  Phải đợi đến năm 1954, Trung Quốc mới, lần đầu tiên trong thời hậu chiến, có mặt tại hội nghị quốc tế quy tụ đủ mặt các cường quốc thế giới: đó là Hội nghị Geneva, bàn về các vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Và phải đợi đến cuối thập niên 60 – đầu thập niên 70, Trung Quốc mới bắt đầu được đối xử  như một cường quốc thực sự. Lần này, nước chủ động xem lại vai trò của Trung Quốc trên trường quốc tế vẫn là Hoa Kì.

([5])  Mãi đến ngày 15.6.1945, Tưởng Giới Thạch mới được đại diện Mĩ báo cho biết nội dung của thỏa thuận mật.

([6])  Trong Hồi kí, bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì James Byrnes ghi rằng chính phủ Liên Xô không đề xuất một thay đổi nào trong bàn Tuyên cáo, nhưng dân uỷ Ngoại giao Molotov có nói lẽ ra Hoa Kì nên tham khảo ý kiến của phía Liên Xô [13,tr.398].
Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ, Khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Chia sẻ

Bình Luận