Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới, khi Đức và Nhật đi đến thất bại hoàn toàn và đầu hàng,  sự chia rẽ giữa các cường quốc Đồng minh Mĩ, Anh với Liên Xô đã nảy sinh và dần dần biến thành những cuộc tranh chấp ngày càng  quyết liệt, khi các cường quốc này tổ chức lại thế giới trong thời hậu chiến (1945 – 1949). Trong 4 năm này, Mĩ và Anh đã đấu tranh với Liên Xô trên các lĩnh vực kinh tế (cắt viện trợ, hạn chế việc nhận bồi thường chiến tranh…), chính trị (đấu tranh tại các Hội nghị thượng đỉnh, trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, tại các Hội nghị của Hội đồng Ngoại trưởng và những cuộc đàm phán song phương…) và cả quân sự (bao vây phong tỏa, hậu thuẫn và viện trợ cho lực lượng vũ trang thân hữu của mình để chống đối bên kia…). Những cuộc tranh chấp lớn ở châu Âu có thể được tóm tắt như sau:

Tranh giành ảnh hưởng ở Đông Âu

Trong quá khứ, các cường quốc Tây Âu luôn tìm cách ngăn chặn sự bành trướng của nước Nga ở Đông Âu. Từ sau Cách mạng tháng mười Nga, việc ngăn chặn này còn mang thêm ý nghĩa chống “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy, từ khi Hồng quân vượt biên giới Liên Xô tiến vào các nước Đông Âu, giới lãnh đạo Anh, Mĩ đã tính đến việc đề phòng Liên Xô thiết lập chế độ cộng sản ở các nước này.

Tại cuộc hội đàm Moskva (tháng 10-1944), Thủ tướng Anh Churchill và Chủ tịch Liên Xô Stalin đã thỏa thuận phân chia khu vực ảnh hưởng ở Rumania, Bulgaria, Hungary, Nam Tư và Hy Lạp .

Tại Hội nghị thượng đỉnh Yalta (tháng 2-1945), những người lãnh đạo ba đại cường Liên Xô, Mĩ và Anh đã cùng kí tên trong bản “Tuyên ngôn về châu Âu giải phóng” xác định quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của các nước được giải phóng khỏi ách phát xít; đồng thời Liên Xô cam kết thành lập Chính phủ Liên hiệp Ba Lan trên cơ sở  mở rộng Chính phủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo (được Liên Xô hỗ trợ) cho các chính khách thuộc Chính phủ Ba Lan lưu vong (được Anh, Mĩ công nhận) tham gia. Liên Xô cũng thừa nhận Chính phủ Tiệp Khắc lưu vong (được Anh, Mĩ hỗ trợ) với điều kiện mở rộng nó cho đảng Cộng sản Tiệp Khắc tham gia để trở thành một chính phủ liên hiệp.

Tuy nhiên, trên thực tế, các đảng cộng sản đều giành được chính quyền ở các nước Đông Âu do Liên Xô giải phóng. Hoa Kì đã đột ngột chấm dứt chương trình viện trợ theo Đạo luật Lend-Lease vào đúng ngày chiến thắng phát xít Đức (9.5.1945); đồng thời Mĩ và Anh đã gây sức ép và đấu tranh với Liên Xô, can thiệp giúp các đảng phái không cộng sản ở các nước này giữ địa vị của mình trong các chính quyền… Nhưng bất chấp tất cả, mọi đảng phái có nền dân chủ tư sản cùng các chính khách lưu vong trở về đều lần lượt bị loại bỏ, chế độ dân chủ nhân dân do đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo được thiết lập ở Nam Tư (11-1945), Albania (1-1946), Bulgaria (9-1946), Ba Lan (1-1947), Rumania (11-1947), Tiệp Khắc (2-1948) và Hungary (8-1949). Như vậy Mĩ và Anh đã thất bại hoàn toàn trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Âu .

chau-au-chien-tranh-lanh
Sự chia rẽ sâu sắc giữa phương Tây và Liên Xô dần dần hình thành nên cục diện Chiến Tranh Lạnh

Tranh chấp ảnh hưởng ở nước Đức

Do vị trí đặc biệt của nước Đức hùng mạnh ở trung tâm châu Âu, cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng giữa Liên Xô với Mĩ và Anh ở đây đã diễn ra rất quyết liệt.

Sau khi đã sáp nhập 1/4 lãnh thổ Đức trước chiến tranh vào Ba Lan và Liên Xô, việc bốn cường quốc chiếm đóng nước Đức được thực hiện theo các quyết nghị ở Yalta và Potsdam. Sử dụng quyền chiếm đóng của mình, các cường quốc Đồng minh đã thực hiện các chính sách khác nhau ở mỗi khu vực chiếm đóng.

Tại Đông Đức, Liên Xô đã triệt để tiêu diệt mọi tàn tích của chủ nghĩa phát xít, xóa bỏ luôn chủ nghĩa tư bản và tạo điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình của Liên Xô. Trong khi đó tại Tây Đức, Mĩ, Anh và Pháp cũng xóa bỏ chủ nghĩa phát xít nhưng lại phục hồi nền kinh tế tư bản, khôi phục chế độ dân chủ theo khuôn mẫu phương Tây. Hai miền phát triển theo hai xu hướng trái ngược nhau, trong khi cả Liên Xô lẫn Mĩ, Anh và Pháp đều không muốn Đức thống nhất theo mô hình của phía bên kia. Chính vì vậy, vấn đề thống nhất và kí hòa ước với nước Đức đã trở thành một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và không khoan nhượng giữa hai bên, mà không đi đến kết quả nào. Phía Mĩ, Anh đã quyết định đơn phương hành động bất chấp mọi thỏa hiệp trước đây: xúc tiến việc hợp nhất 3 khu chiếm đóng ở Tây Đức để thành lập nước Cộng hòa Liên bang Đức. Liên Xô phản ứng rất mạnh và cuộc khủng hoảng Berlin (từ  tháng 7.1948 đến tháng 5.1949) đã trở thành cuộc đối đầu quyết liệt nhất giữa Liên Xô với Mĩ và Anh trong thời gian hậu chiến ở châu Âu. Sự thành lập nước Cộng hòa Liên bang  Đức  ở Tây Đức (9.1949) và nước Cộng hòa Dân chủ Đức ở Đông Đức (10.1949) là kết quả của cuộc đấu tranh bất phân thắng bại giữa Mĩ, Anh với Liên Xô trong cuộc tranh chấp ảnh hưởng ở Đức. Nước Đức trở thành trọng điểm đối đầu giữa hai phe trong cuộc Chiến tranh lạnh.

Gắn liền với cuộc tranh chấp ở Đức là cuộc đấu tranh giữa hai bên về nước Áo. Như nước Đức, Áo cũng bị phân chia thành 4 khu vực chiếm đóng của Mĩ, Anh, Pháp và Liên Xô. Cả bốn nước này cũng không có được tiếng nói chung để tìm ra giải pháp trao trả chủ quyền cho nước Áo.

Chiếm được nước Đức là chiếm được đầu tàu kinh tế của cả khu vực Châu Âu

Tranh giành ảnh hưởng ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran

Cùng với sự thiết lập chế độ dân chủ nhân dân ở các nước Đông Âu, ảnh hưởng của Liên Xô còn lan rộng tới Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Vì thế, Mĩ và Anh lại tìm cách đối phó với Liên Xô ở các nước này.

Tại Iran, sự tranh chấp ảnh hưởng đã diễn ra ngay sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc giữa Anh (được Mĩ ủng hộ) với Liên Xô là hai nước được quyền đóng quân ở đây trong chiến tranh. Lúc đầu, Chính phủ Hoàng gia Iran ngả theo Liên Xô và thừa nhận tỉnh tự trị Azerbaijan đặt dưới quyền kiểm soát của đảng Tudeh (tức đảng Cộng sản Iran) và đảng Dân chủ của người Kurd (cả hai đảng này đều nhận được sự ủng hộ của Liên Xô). Phía Anh và Mĩ liền dựa vào các bộ lạc vũ trang Hồi giáo để gây áp lực và lôi kéo Chính phủ Iran theo mình. Chính phủ Iran đã thẳng tay đàn áp đảng Tudeh và đảng Dân chủ của người Kurd, giành lại chủ quyền đối với tỉnh Azerbaijan (12.1946). Iran đã trở nên căng thẳng với Liên Xô và xiết chặt quan hệ với Anh và Mĩ. Quan hệ giữa Iran  và Liên Xô trở nên căng thẳng, trong lúc quan hệ giữa Iran với Anh và Mĩ lại được cải thiện.

Thổ Nhĩ Kỳ không tham gia chiến tranh thế giới nhưng khi chiến tranh kết thúc, Liên Xô yêu cầu Thổ phải trả lại Liên Xô hai vùng đất trước đây thuộc Đế quốc Nga, đồng thời yêu cầu Thổ để cho Liên Xô cùng cộng tác trong việc quản lí và phòng thủ các eo biển Dardanelles và Bosphore. Mĩ và Anh liền đứng về phía Thổ để chống lại áp lực của Liên Xô.

Hy Lạp được coi là thuộc phạm vi ảnh hưởng của Anh tới 90% theo sự thỏa thuận giữa Stalin và Churchill; song phong trào du kích của đảng cộng sản ở đây phát triển rất mạnh và đã tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền khi chiến tranh thế giới kết thúc. Quân đội Anh đã thẳng tay đàn áp phong trào cộng sản để bảo vệ Chính phủ Hoàng gia Hy Lạp. Nội chiến đã diễn ra trong suốt 3 năm (1946 – 1949) giữa Chính phủ Hy Lạp (được Anh và Mĩ hỗ trợ) với đảng cộng sản (được Liên Xô giúp đỡ thông qua các nước dân chủ nhân dân Nam Tư, Albania và Bulgaria). Vấn đề Iran và vấn đề Hy Lạp đã trở thành cuộc đấu tranh giữa Liên Xô với Mĩ và Anh trong suốt thời gian đó. Hoa Kì đã đối phó với Liên Xô trong các vấn đề Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bằng chủ thuyết Truman.

Sự ra đời của hai phe ở châu Âu

 

Tình trạng căng thẳng trong quan hệ Xô – Mĩ  sau chiến tranh đã đưa tới việc Mĩ công bố Chủ thuyết Truman (tháng 3-1947) nhằm ngăn chặn Liên Xô và phong trào cộng sản quốc tế. Kế hoạch Marshall (6-1947) đã tập hợp các nước Tây Âu dưới sự lãnh đạo của Mĩ.

Trước tình hình đó, Liên Xô đã thành lập Cục Thông tin Cộng sản (Kominform) vào tháng 7-1947, bao gồm đại diện đảng cộng sản Liên Xô, 6 đảng cộng sản của các nước dân chủ nhân dân (DCND) Đông Âu, đảng Cộng sản Pháp và đảng Cộng sản Italia, để xác định đường lối, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp hành động chống chủ nghĩa tư bản. Chính phủ Liên Xô còn cho công bố chủ thuyết Zhdanov về sự phân chia thế giới thành hai phe: phe thứ nhất gồm các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), dân tộc chủ nghĩa và yêu chuộng hòa bình với Liên Xô làm trụ cột, và phe thứ hai gồm các nước đế quốc , thực dân và hiếu chiến do Mĩ cầm đầu. Khối liên minh về mọi mặt giữa các nước XHCN chủ nghĩa cũng được xiết chặt bằng một hệ thống các hiệp ước song phương về “Hữu nghị, Hợp tác, Liên minh và Tương trợ” kí kết giữa Liên Xô với các nước DCND Đông Âu  và giữa các nước này với nhau.

Do tác động của kế hoạch Marshall, Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) ra đời vào tháng 4-1948, tạo nên sự liên kết chặt chẽ về kinh tế giữa các nước tư bản Tây Âu .

chau-au-chien-tranh-lanh
Đối đầu Xô-Mỹ diễn ra bắt nguồn từ sự xung đột về tư tưởng và ý thức hệ.

Để giúp đỡ nhau phát triển kinh tế mà không cần đến kế hoạch Marshall, Liên Xô đã thành lập hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON) vào tháng 1-1949. Đây là tổ chức liên kết kinh tế chủ yếu của các nước XHCN Đông Âu do Liên Xô lãnh đạo. Tổ chức này về sau sẽ mở rộng đến các nước XHCN ngoài châu Âu.

Trước sự đoàn kết chặt chẽ của hệ thống XHCN và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản quốc tế, các cường quốc tư bản Tây Âu và Mĩ đã xúc tiến việc thành lập các khối  liên minh về chính trị và quân sự của phương Tây: Khối Liên hiệp Tây Âu tức Hiệp ước Brussels ra đời tháng 3-1948 và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây dương (NATO) được thành lập tháng 4-1949. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương là liên minh quân sự và chính trị quan trọng nhất và hùng mạnh nhất của hệ thống tư bản chủ nghĩa (TBCN) do Mĩ lãnh đạo, mà mục đích chủ yếu là chống hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu.

Như vậy, đến năm 1949, tại châu Âu đã hình thành hai phe  thuộc hai hệ thống đối lập:  phe XHCN do Liên Xô đứng đầu, được liên kết bằng Cục Thông tin Cộng sản (Kominform), Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON), và các hiệp ước song phương…; phe TBCN do Mĩ đứng đầu, được liên kết bằng Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC), Hiệp ước Brussels và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)… Trên phạm vi thế giới, hệ thống XHCN còn có sự tham gia của các nước DCND châu Á; hệ thống TBCN có thêm Tổ chức các Quốc gia châu Mĩ (OAS) và các nước tư bản trong khối Liên hiệp Anh (Commonwealth)…

Với sự hình thành của hai phe thuộc hai hệ thống thế giới vào năm 1949, quan hệ quốc tế bước sang một thời kỳ mới. Trong thời hậu chiến (1945 – 1949), nội dung chủ yếu của quan hệ quốc tế là việc tổ chức lại thế giới sau chiến tranh giữa các nước Đồng minh, từ đó nảy sinh tình trạng Chiến tranh lạnh giữa Mĩ, Anh với Liên Xô.Từ năm 1950  cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc (1991), nội dung chủ yếu của quan hệ quốc tế trên toàn thế giới nói chung, ở châu Âu nói riêng, sẽ là sự đối đầu giữa hai hệ thống  thế giới do Mĩ và Liên Xô đứng đầu.

 

Chia sẻ

Bình Luận