Tình trạng “cân bằng của nỗi  khiếp sợ” trong quan hệ Đông-Tây

Một trong những hậu quả phát sinh từ cuộc đối đầu Xô – Mĩ nói riêng và đối đầu Đông – Tây nói chung là cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là vũ khí hủy diệt rất tốn kém và đầy nguy hiểm giữa hai siêu cường Hoa Kì và Liên Xô. Trong thời gian đầu (từ năm 1945 đến khoảng năm 1955), ưu thế nghiêng hẳn về phía Hoa Kì: là nước nắm giữ độc quyền về vũ khí nguyên tử đến năm 1949, tháng 11.1952 Hoa Kì đã cho nổ thử nghiệm thành công bom H (nhiệt hạch). Không những thế, Hoa Kì còn làm chủ một số lượng không nhỏ các phương tiện mang vũ khí hạt nhân đến mục tiêu (bệ phóng, tàu ngầm, phi cơ oanh kích tầm xa). Chính phủ Eisenhower đã đề ra chiến lược  “trả đũa ồ ạt”: trong trường hợp xảy ra xung đột, Hoa Kì sẽ tìm cách tiêu diệt mối đe dọa ngay tại nguồn của nó (mà ở đây hiển nhiên là Liên Xô sẽ bị nghiền nát bởi những trận oanh kích dồn dập được thực hiện bằng hàng trăm quả bom hạt nhân). Ngày 12.1.1954 , Bộ trưởng Ngoại giao Mĩ John F. Dulles tuyên bố : “Kế hoạch phòng thủ cục bộ cần được tăng cường bằng sức mạnh trả đũa ồ ạt. Phương sách để thế giới tự do chặn đứng xâm lược là ý chí và khả năng giáng trả mạnh mẽ vào mọi nơi bằng những phương tiện riêng của mình”.

Về phần mình, Chính phủ Xô viết cũng dồn sức vào cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân với Mĩ, dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Tháng 9.1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom A (sau Mĩ 40 tháng), và làm chủ bom H vào tháng 8.1953, nghĩa là chỉ sau Mĩ không đầy một năm. Kể từ đây, ưu thế vũ khí hạt nhân của Mĩ bị thu hẹp dần. Tháng 10-1957, Liên Xô đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo Sputnik I đầu tiên của loài người. Sự biến này cho thấy xét về mặt địa lí, lãnh thổ của Mĩ không còn bất khả xâm phạm nữa, vì loại tên lửa đủ sức mang vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo Trái Đất tất nhiên cũng có khả năng mang đầu đạn hạt nhân từ châu Âu sang Bắc Mĩ. Một chương mới trong cuộc chạy đua vũ trang giữa hai nước bắt đầu. Hoa Kì tăng cường cải tiến tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và triển khai kế hoạch đặt tên lửa tầm trung (IRBM) ở vài nước Tây Âu (Anh, Italia) và Thổ. Về phần mình, Liên Xô bắt đầu xây dựng  các bệ phóng tên lửa, chuẩn bị sản xuất ICBM thế hệ hai.

Đến đầu thập niên 1960, quan hệ giữa Liên Xô và Mĩ trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân đã đạt đến tình trạng được gọi là “sự cân bằng của nỗi  khiếp sợ” (balance of terror): không nước nào dám phát động cuộc chiến tranh bằng vũ khí hủy diệt- hạt nhân trước, vì biết rằng bản thân cũng sẽ chịu những tàn phá ghê gớm không kém gì đối phương. Đó là lí do vì sao cuộc khủng hoảng Cuba năm 1962 đã được kết thúc bằng một giải pháp nhân nhượng cho cả hai bên.

Từ cuộc khủng hoảng vừa kể, các nhà lãnh đạo Hoa Kì và Liên Xô đã nhận thức rõ hơn về những giới hạn không được vượt qua, nếu không muốn đặt nước mình và thế giới trước hiểm họa của một cuộc chiến tranh hạt nhân tàn khốc, và những nguy cơ tiềm tàng của một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân vừa không có giới hạn, vừa không được kiểm soát.

Sự thay đổi trong bầu không khí chung của quan hệ Đông-Tây sau cuộc khủng hoảng đã thúc đẩy Liên Xô, Hoa Kì và Anh(1) mau chóng đi đến một hiệp ước liên quan đến việc cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân.

Thực ra, các cuộc đàm phán về cả vũ khí hạt nhân lẫn quy ước đã diễn ra từ 10 năm trước đó, từ ngày 11.01.1952 bằng việc thành lập một ủy ban của LHQ. Sau khi ủy ban này không mang lại tiến bộ nào, năm nước – Mĩ, Liên Xô, Anh, Pháp(2) và Canada – đã thành lập Tiểu ban giải trừ vũ khí trực thuộc LHQ. Tại các cuộc đàm phán,  Liên Xô kiên quyết đòi ngưng vô thời hạn toàn bộ các cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân, kể cả dưới mặt đất, và Hiệp ước này cần được tất cả các cường quốc hạt nhân kí. Nhưng Pháp bác bỏ, vì coi đây không phải là một hoạt động giải trừ quân bị thực sự, mà chỉ là một cố gắng của những nước đã có vũ khí hạt nhân ngăn không cho các nước khác có loại vũ khí này. Còn Mĩ, viện cớ các phương tiện khoa học hiện có không cho phép phân biệt các chấn động phát sinh từ các vụ nổ trong lòng đất với các cuộc động đất tự nhiên, để đưa ra đề nghị đòi được kiểm tra tại chỗ các hiện tượng bị hồ nghi là vụ nổ hạt nhân trong lòng đất. Cho rằng đây là âm mưu dọ thám lãnh thổ nước mình, phái đoàn Liên Xô đã kiên quyết không xem xét đề nghị của Hoa Kì.

Kết quả của những bất đồng lớn lao trên là sau 157 phiên họp kéo dài từ ngày 23.4.1954 đến ngày 6.9.1957, không một tiến bộ khả quan nào được ghi nhận.

Tuy nhiên, để tỏ rõ thiện chí của mình, ngày 31.3.1958, Chính phủ Xô viết đã tuyên bố đơn phương ngưng mọi cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân và sẽ không tiếp tục các cuộc thử nghiệm này, nếu Mĩ và Anh cũng sẽ không tiến hành. Các nước phương Tây đã noi theo gương Liên Xô và đồng ý thảo luận với Liên Xô về một hiệp ước ngưng thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Diễn ra tại Geneva từ ngày 31.10.1958, cuộc đàm phán giữa ba nước về các vấn đề như con số các cuộc kiểm tra tại chỗ, thời hạn tạm ngưng thử nghiệm, nhu cầu hợp tác cải tiến phương pháp phát hiện, đã xoay quanh trọng tâm là kiểm tra, vì sẽ không nước nào sẵn sàng từ bỏ kế hoạch thử nghiệm, vốn là phương sách chính để cải tiến vũ khí hạt nhân, nếu không chắc chắn rằng đối phương cũng sẽ làm như vậy. Hoa Kì và Anh đồng ý kí một thỏa ước từ bỏ việc thử nghiệm trong khí quyển vốn dễ dàng bị phát hiện, và những cuộc thử nghiệm trên quy mô lớn trong lòng đất, mà người ta có thể phân biệt tương đối dễ với những cơn động đất tự nhiên được ghi nhận trên địa chấn kế. Nhưng hai nước này không muốn đưa vào thỏa ước những cuộc thử nghiệm nhỏ trong lòng đất, nếu Liên Xô không đồng tình với điều khoản quy định công tác kiểm tra thích đáng tại chỗ. Về phần mình, Liên Xô kiên trì quan điểm chỉ kí một thỏa ước cấm toàn bộ việc thử nghiệm và khước từ mọi hoạt động thanh sát tại chỗ.

Sự khác biệt lớn lao kể trên trong lập trường của các bên tham gia đàm phán cùng với nhiều sự biến bất ngờ đã diễn ra trong thời gian đàm phán như vụ một máy bay trinh sát U-2 của Mĩ bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô, thất bại của Hội nghị thượng đỉnh ở Paris, cuộc khủng hoảng Berlin, đã là những trở ngại lớn không dễ vượt qua.

Các Hiệp ước Moskva về ngừng thử nghiệm và không phổ biến vũ khí hạt nhân

Sau khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), cuộc đàm phán đã diễn ra với nhịp độ nhanh hơn. Lập trường của các bên dần dần nhích lại gần nhau, nhất là sau khi nhà  lãnh đạo Xô viết N. Khrushchev đưa ra một nhượng bộ đáng kể vào đầu tháng 7.1963 là: Liên Xô sẵn sàng kí một thỏa ước cấm chỉ mọi cuộc thử nghiệm hạt nhân ở bất kì nơi nào chúng có thể dễ bị phát hiện – trong khí quyển, ngoài không gian, dưới mặt nước, còn trong lòng đất thì để ngỏ.

Các cuộc đàm phán quanh đề nghị này đã diễn ra ở Moskva từ ngày 15 và kết thúc ngày 25.7.1963. Hiệp ước được kí ngay trong ngày hôm đó đã nhận được sự tán đồng của 10 nước. Ngày 11-9 đã có 77 chữ kí. Ngày 10-10, Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực sau khi được Liên Xô, Mĩ và Anh phê chuẩn. Trong tháng 10, Hiệp ước đã nhận được chữ kí đồng tình của 102 nước. Pháp và CHND Trung Hoa(3) đã không tham gia vì cả hai đều quyết xây dựng cho mình một lực lượng hạt nhân riêng. Đáng phấn khởi là cũng trong tháng 10-1963, Liên Xô, Hoa Kì và Anh đã thỏa thuận, với sự nhất trí của Đại hội đồng LHQ, ngăn cấm đặt vũ khí hạt nhân trên những vệ tinh xoay quanh Trái Đất.

Hiệp ước Moskva là bước khởi đầu tốt đẹp cho những cuộc đàm phán giải trừ quân bị tiếp theo sau. Tuy nhiên, chúng đã diễn ra với tốc độ chậm chạp không kém lúc trước. Mãi đến tháng 8.1967, Liên Xô và Hoa Kì mới đạt được sự đồng ý chung về bản dự thảo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân. Sau khi được kì họp XXII của Đại hội đồng LHQ thông qua tháng 6.1968, bản Hiệp ước đã bắt đầu tiếp nhận chữ kí tán đồng của các nước từ ngày 1.7.1968.

Theo Hiệp ước, các cường quốc có vũ khí hạt nhân không được chuyển giao cho bất kì nước nào thứ vũ khí này (cả gián tiếp lẫn trực tiếp). Còn những nước không có vũ khí hạt nhân cam kết sẽ không tiếp nhận vũ khí hạt nhân, các phương tiện gây nổ hạt nhân hay quyền kiểm soát chúng (cả gián tiếp lẫn trực tiếp), không sản xuất cũng như không tìm cách thủ đắc chúng.  Hiệp ước sẽ trao cho những nước không có vũ khí hạt nhân hệ thống kiểm soát hoạt động trong khuôn khổ của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (MAGATE) nhằm mục đích không cho phép thay đổi việc sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân sang ý đồ sản xuất vũ khí hạt nhân.

Cần lưu ý thêm rằng trong tiến trình đàm phán, các cường quốc Hoa Kì, Liên Xô và Anh cam kết sẽ đảm bảo an ninh cho những nước tham gia kí Hiệp ước nhằm tránh cho họ khỏi một cuộc tiến công hạt nhân. Cam kết này được thông qua bằng một nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ ngày 19.6.1968.

Tương tự như Hiệp ước Moskva, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân đã không nhận được chữ kí của Pháp, CHND Trung Quốc và của các nước Pakistan, Israel, CH Nam Phi, Ấn Độ(4) và một số nước Ả rập. Biện giải cho sự khước từ của mình, các nước này cho rằng Hiệp ước không góp phần vào sự nghiệp giải trừ quân bị, mà chỉ nhằm mục tiêu cản trở sự gia tăng số lượng các nước có vũ khí hạt nhân. Hè năm 1968, tức một năm sau khi Trung Quốc thử quả bom H đầu tiên, nước Pháp cũng tiến hành cuộc thử nghiệm này.

vũ khí hạt nhân
Vũ khí hạt nhân có thể được xem là “giấy xác nhận” cho một cường quốc đích thực.

Vấn đề giới hạn vũ khí chiến lược (SALT) và các loại vũ khí hủy diệt khác

Tuy đánh dấu những cột mốc lớn trong tiến trình giải trừ quân bị, hai văn kiện kể trên chưa tác động đáng kể đến trung tâm của vấn đề – kho vũ khí hạt nhân khổng lồ của hai siêu cường. Diễn ra trong hơn 20 năm (tính đến cuối thập niên 60), cuộc chạy đua vũ khí đã trở thành một gánh nặng ngày càng trở nên khó kham nổi đối với ngân sách và nền kinh tế của cả hai nước, nhất là khi cả hai đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn cả trong lĩnh vực đối nội lẫn đối ngoại.

Lên cầm quyền từ cuối năm 1963, với lời hứa hẹn sẽ chi ra hàng trăm tỉ dollar cho kế hoạch xây dựng một “Xã hội vĩ đại” (Great Society), mà trong đó mọi người dân, cả da trắng lẫn da màu, thuộc tầng lớp thượng lưu hay tầng lớp bình dân… đều tìm thấy chỗ đứng của mình, Tổng thống Johnson lại đồng thời đẩy nước Mĩ sa vào “bãi lầy Đông Dương” ngốn đi hàng trăm tỉ dollar tiền thuế của người dân. Hậu quả là chẳng những “Xã hội vĩ đại” không xây dựng được, mà uy lực của Hoa Kì trên trường quốc tế cũng bị suy giảm rất nhiều.

 Khai thác những khó khăn mà người Mĩ đang phải đối mặt ở Đông Dương, giới lãnh đạo Xô viết thời Brezhnev (1964-1982) đã theo đuổi đường lối đối ngoại theo hướng từng bước hình thành một chiến lược toàn cầu, mà một trong những nội dung chính là cố gắng đuổi kịp và vượt Mĩ trong cuộc chạy đua vũ trang – cả quy ước lẫn hạt nhân. Đến đầu thập niên 70, họ đã đạt được mục tiêu này(5), nhưng cái giá phải trả thật không rẻ chút nào. Trong thập niên 60, kinh tế Liên Xô đã tăng trưởng với nhịp độ chậm lại, đời sống của người dân, dù có được cải thiện đáng kể so với trước, vẫn còn bị các nước phương Tây bỏ lại đàng sau ở một khoảng cách khá xa. Trong lúc đó, từng được sống trong bầu không khí cải cách của những năm thời Khrushchev, một bộ phận người dân, nhất là trong giới trí thức và lớp trẻ, khao khát được hưởng một cuộc sống đầy đủ hơn về vật chất, phong phú hơn về tinh thần, thoải mái hơn trong các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do đi lại, như ở những nước phương Tây.

Ghi chú:

(1)  Tháng 10.1952, nước Anh đã trở thành cường quốc hạt nhân thứ ba sau khi thử nghiệm thành công bom  A; đầu tháng 5.1957, nước này cũng đã có bom H.

(2)  Pháp làm chủ kĩ  thuật sản xuất bom A tháng 2.1960.

(3)  Tháng 10.1964, CHND Trung Hoa đã chế tạo được bom A.

(4)  Tháng 5.1974, Ấn Độ đã thử nghiệm thành công bom A.

(5)  Chỉ riêng trong năm 1966, Liên Xô đã đặt 224 ICBM và đến năm 1968 đã vươn đến gần con số 1054 ICBM và đang triển khai một số SLBM.

Chia sẻ

Bình Luận