Sự đoạn tuyệt giữa Liên Xô và Albania

Giống như trường hợp của Nam Tư, những người cộng sản Albania đã giành được thắng lợi trong chiến tranh chống phát xít không dựa vào sự hiện diện của một lực lượng Hồng quân đông đảo trong nước, mà chủ yếu bằng nỗ lực riêng của họ. Tuy nhiên, sau khi thành lập chế độ cộng hòa nhân dân (1.1946), những người lãnh đạo Albania đã mau chóng theo đuổi đường lối đối ngoại thân Liên Xô.

Sự  chọn lựa trên của giới cầm quyền Tirana  không đơn thuần phát xuất từ sự tương đồng về hệ tư tưởng, mà còn vì một lí do thực tiễn hơn nhiều: giữa Albania và Nam Tư tồn tại một cuộc tranh chấp dai dẳng và thường thấy trên bán đảo Balkans – tranh chấp về lãnh thổ. Tirana rất quan tâm đến số phận của những người Albania thiểu số đang sinh sống trong phần lãnh thổ Kosovo nằm trong cương giới Nam Tư. Làm chủ một nước rất nhỏ so với Nam Tư, giới lãnh đạo Albania tất phải tìm cho mình một chỗ dựa vững chắc để có thể tiếp tục theo đuổi cuộc tranh chấp lâu đời về lãnh thổ. Do vậy, Enver Hodja, nhà lãnh đạo Albania, đã nồng nhiệt ủng hộ Stalin, khi cuộc tranh cãi giữa Liên Xô và Nam Tư bùng nổ từ tháng 6.1948.

Trong những điều kiện trên, Tirana đã đón nhận với sự quan ngại sâu sắc những chuyển động hòa giải giữa Nam Tư và Liên Xô. Những cố gắng của N. Khrushchev nhằm làm cho Albania và Nam Tư xích lại gần nhau đều không mang lại kết quả gì. Bộ máy thông tin và tuyên truyền của Albania liên tục tố cáo Nam Tư theo đuổi lập trường đối ngoại “sôvanh” và “phản mácxít”. Tháng 5.1958, Enver Hodja gọi Nam Tư là “bọn phản bội chủ nghĩa Marx – Lenin” và “tay sai của chủ nghĩa đế quốc”. Chuyến đi thăm Albania kéo dài 11 ngày trong tháng 5.1959 của đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô do N. Khrushchev dẫn đầu không làm cho quan hệ giữa Nam Tư và Albania trở nên tốt đẹp hơn. Tệ hơn nữa, nó cũng chẳng giúp ích gì cho việc cải thiện quan hệ giữa chính Liên Xô và Albania, vốn cũng đang diễn biến theo chiều hướng xấu đi, dù tin tức và bài diễn văn của N. Khrushchev và Enver Hodja ở Tirana được báo chí hai nước đăng tải dưới tiêu đề “Tình hữu nghị muôn đời”.

Lí do tất không chỉ vì thái độ thù địch của giới lãnh đạo Albania đối với Nam Tư, mà còn phát xuất từ chính sách đối nội của Tirana. Ngay trong thời Stalin, ở Albania đã diễn ra những vụ trấn áp khắc nghiệt và mang tính phi pháp. Không ít nhà hoạt động cộng sản đã bị giết hại sau khi bị buộc tội có cảm tình với Nam Tư hay chống đối nhà lãnh đạo Enver Hodja. Việc phê phán tệ sùng bái cá nhân Stalin ở Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô và việc Liên Xô bình thường hóa quan hệ với Nam Tư đã đặt những người lãnh đạo Albania vào tình thế khó khăn. Họ không muốn thực hiện những cuộc cải cách trong lĩnh vực đối nội và cũng không hề nghĩ đến việc thay đổi chính sách đối với Nam Tư. Những nhà hoạt động chính trị cộng sản nào không tán thành đường lối đối nội và đối ngoại vừa nêu đều bị bắt và bị xử bắn, bất chấp sự can thiệp của cá nhân N. Khrushchev.

Thất bại của chuyến viếng thăm tháng 5.1959 của Ban lãnh đạo Liên Xô đã đẩy giới lãnh đạo Albania đến một quyết định dứt khoát. Tháng 5.1960, 8 tàu ngầm Liên Xô và các tàu hộ tống đóng ở căn cứ Valona của Albania đã bị trục xuất và phải trở về nước qua eo biển Gibraltar và biển Baltic. Cũng trong thời gian này, Albania tìm cách tăng cường quan hệ với Trung Quốc. Khó chịu trước sự chuyển hướng trong chính sách đối ngoại này của Albania, tháng 1.1961, Liên Xô đình chỉ việc chuyển giao trang thiết bị cho nước này. Vài ngày sau, Đại sứ quán Liên Xô thông báo việc rút chuyên gia dầu lửa Liên Xô về nước. Albania liền đáp trả bằng hành động rút ra khỏi COMECON. Ngày 10.12.1961, quan hệ giữa hai nước đã đi đến chỗ đoạn tuyệt và Enver Hodja, từ đó cho đến lúc qua đời (1985), vừa theo đuổi chính sách thân hữu với Trung Quốc, vừa trở thành một trong những nhân vật chỉ trích Liên Xô ác liệt nhất. Năm 1968, Albania rút khỏi khối Varsava.

albania và trung quốc
Tranh cổ động miêu tả mối quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững giữa Trung Quốc và Albania năm 1969

 Những khó khăn trong quan hệ giữa Liên Xô và Rumania.

Là một đồng minh thân thiết với Liên Xô sau khi trở thành nước dân chủ nhân dân (12.1947), Rumania từ đầu thập niên 60 đã tìm cách rời xa dần khỏi ảnh hưởng của Moskva. Đầu mối của sự thay đổi này nằm trong sự khác biệt về quan điểm phát triển quan hệ hợp tác kinh tế trong khuôn khổ COMECON.

Nhằm giành được chiến thắng trong cuộc chạy đua phát triển kinh tế với các nước tư bản, N. Khrushchev nghĩ rằng cần chuyên môn hóa nền kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa thành viên COMECON trên cơ sở của điều được ông gọi là “phân công lao động xã hội chủ nghĩa”.  Vấn đề này được mang ra thảo luận tại phiên họp của COMECON tháng 8.1961. Nếu được thực hiện, đề nghị này tất sẽ tăng cường ảnh hưởng của Liên Xô trong tư cách là nước thành viên có nền kinh tế phát triển nhất và có vị thế chính trị áp đảo, nhưng không hẳn sẽ đáp ứng quyền lợi của các nước thành viên khác.

Về mặt công nghiệp, Rumania là một trong những nước Đông Âu kém phát triển nhất. Năm 1962, sản xuất công nghiệp tính theo đầu người của Rumania chỉ bằng 1/3 của CHDC Đức và thu nhập tính theo đầu người chỉ bằng 45% của Tiệp Khắc. Trong những điều kiện như vậy, giới lãnh đạo Rumania nghĩ rằng “chuyên môn hóa xã hội chủ nghĩa” sẽ cản trở sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và giữ chặt nước họ mãi mãi là một nước nông nghiệp và do vậy sẽ càng phụ thuộc vào Liên Xô. Tại cuộc họp tháng 3.1963 của COMECON, phái đoàn Rumania đã có dịp trình bày lập trường của họ.

Sau sự kiện trên, Rumania bắt đầu tỏ rõ thái độ độc lập hơn trong lĩnh vực đối ngoại. Chẳng hạn, khác với các nước Đông Âu, Bucharest đã giữ lập trường trung lập trong mối bất đồng Xô – Trung. Trong nỗ lực củng cố vị thế độc lập hơn với Liên Xô, Rumania đã tăng cường quan hệ thương mại với Trung Quốc và nối lại quan hệ thương mại với Albania. Giới lãnh đạo Rumania không tán thành ý tưởng về một hội nghị các đảng cộng sản thân Liên Xô nhằm lên án Trung Quốc. Tháng 4-1964, Ban Chấp hành Trung ương đảng Công nhân Rumania đã ra tuyên bố khẳng định vị thế độc lập của nước họ trong quan hệ với Liên Xô: “Được đề xuất, lựa chọn và thay đổi các hình thức và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội là quyền thuộc chủ quyền của các nước xã hội chủ nghĩa. Không thể có đảng cha và đảng con, đảng cấp trên và đảng cấp dưới, chỉ có một đại gia đình các đảng cộng sản và công nhân cùng có quyền bình đẳng”.

Ngày 15.10.1964, trong ban lãnh đạo Liên Xô  đã diễn ra sự thay đổi lớn, N. Khrushchev bị cách chức, L. I. Brezhnev lên thay làm tổng bí thư và A. Kosygin làm chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô. Tuy nhiên, Ban lãnh đạo mới về cơ bản không thay đổi chính sách đối với Đông Âu nói chung, Rumania nói riêng.

Tháng 8.1968, Rumania không chỉ từ chối, mà còn chỉ trích sự can thiệp của Liên Xô vào Tiệp Khắc.

Song song đó, Bucharest tìm cách cải thiện và tăng cường quan hệ với các nước phương Tây, đặc biệt là với Pháp, một nước có những quan hệ văn hóa và quan điểm đối ngoại gần gũi với Rumania. Tháng 5-1968, nước này lần đầu tiên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai tiếp một nguyên thủ phương Tây tổng thống Pháp de Gaulle. Tháng 8.1969, giới lãnh đạo Rumania đã đón tiếp tổng thống Hoa Kì R. Nixon.

Một câu hỏi thường được nêu ra là tại sao Rumania một nước không mạnh và có đường biên giới chung khá dài với Liên Xô lại có thể duy trì được vị thế độc lập về đối ngoại của mình cho đến lúc chế độ xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ vào cuối năm 1989? Một phần của câu trả lời có thể được tìm thấy trong đường lối đối nội của Trung ương đảng Công nhân Rumania. Dưới sự lãnh đạo của Gheorgiu Dej, và đặc biệt là của Nicolaie Ceausescu (bí thư thứ nhất từ tháng 3.1965 và sau đó trở thành tổng bí thư cho đến tháng 12.1989), Rumania chưa bao giờ rời bỏ con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Quyền lãnh đạo của đảng Công nhân được xác lập vững chắc và không bao giờ bị thách thức. Mọi mưu toan chống đối, nếu có, đều mau chóng bị dập tắt. Có thể chính sự vững chắc của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Rumania đã làm yên lòng những nhà lãnh đạo trong điện Kremlin, dù họ không hài lòng với đường lối đối ngoại của Bucharest. Vả chăng, từ nửa sau thập niên 60, xu thế hòa hoãn trong quan hệ quốc tế ở châu Âu trở nên vững chắc hơn, giới lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa  Đông Âu nói chung không còn gặp nhiều khó khăn như lúc trước, khi muốn mở rộng quan hệ với phương Tây, miễn là bước phát triển này không đe dọa đến sự trung thành của họ đối với khối Hiệp ước Varsava và COMECON.

Và lí do cuối cùng, nhưng không kém quan trọng có lẽ là vị trí địa lí của Rumania: không có đường biên giới tiếp giáp với bất kì nước phương Tây nào và chỉ tiếp giáp với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trung thành với Liên Xô. Còn đường biên giới giữa Liên Xô và Rumania vừa khá dài, vừa dễ bị vượt qua.

Nguồn: Tài liệu tham khảo nội bộ Khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM

Chia sẻ

Bình Luận